Trời có ba báu là: Nhựt, Nguyệt, Tinh.
Đất có ba báu là: Thủy, Hỏa, Phong
Người có tam bửu là: Tinh, Khí, Thần.
Rượu tượng trưng cho khí
Bông tượng trưng cho tinh
Trà tượng trưng cho thần
Trời có ba báu ấy mà hoá sanh vạn vật, dưỡng dục muôn loài, chuyển luân càn khôn thế giới, phân ranh ngày đêm. Đất nhờ ba báu ấy mà mưa gió điều hòa, cỏ cây tươi nhuận thời tiết có bốn mùa. Người có tam bửu để nuôi dưỡng thân thể, minh mẩn phát kiến khoa học giúp nhân loại.
Nếu tinh đầy đủ, bạn chẳng cảm thấy lạnh; nếu khí đầy đủ, bạn chẳng thấy đói; nếu thần đầy đủ, bạn chẳng buồn ngủ. Tinh, khí, thần (theo Ðạo giáo) gọi là Tam Bảo. Lý này cũng tương tợ như Phật Pháp Tăng (Phật-Pháp-Tăng chính là Giác-Chánh-Tịnh) của nhà Phật.
Tam bửu là Tinh, Khí, Thần mỗi ngày đều theo con mắt, lổ tai, lổ nhỉ, lưỡi, thân, ý mà tiêu tán ra hồng trần. Chẳng biết giữ chặc chịa, cho nên chưa đến tuổi già mà đã hao mòn tam bửu, không đặng trường sanh. Hễ con mắt ngó thấy sắc đẹp thì cái thần bị cướp. Lổ tai nghe lời dâm dục, hoặc ca hát thì tinh bị cướp. Lổ miệng hay ăn đồ ngon ngọt thơm tho thì khí bị cướp.
Tinh, khí, thần ban đêm thì trú nơi thận. Còn ban ngày thì ở 3 nơi khác nhau. Ba chỗ ấy là: Tinh ở nơi lổ tai, Khí ở nơi miệng, Thần tại con mắt. Miệng nói tai nghe, con mắt thấy điều này điều kia, mà làm cho lần lần hao mòn tinh, khí, thần. Kẻ tu hành phải lấy chơn ý thâu tinh, khí, thần.
Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ tức là ngũ hành. Ðêm ngày mỗi món đều ở yên một chỗ, nghĩa là phần của hành nào thì hành này phải ở đó, chẳng được đi bậy qua chỗ khác. Ban ngày thì kim khí ở nơi con mắt, mộc khí ở nơi lổ tai, thủy khí ở tại lổ miệng, hỏa khí ở tại lổ mũi, thổ khí nơi ngoài da. Còn ban đêm thì kim khí ở tại phổi, mộc khí trú tại gan, thủy khí trú tại thận, hỏa khí trú tại tim, thổ khí trú tại bao tử. Mỗi ngày ngũ khí đều có hao kém bởi vì ngũ tạng là tâm, cang, tỳ, phế, thận nó hay chuyển động.
Con người qui được tam bửu ngũ hành thì đắc quả đạt đạo, còn chơi bời trác táng làm hư hoại tam bửu ngũ hành thì thân bại , hình người mà dạ thú. Vậy phải giữ gìn tinh , khí , thần như báu vật.
Tinh – Khí – Thần của con người thường được ví như ngọn đền dầu, nếu dầu tiêu hao hoang phí, tất ngọn đèn cũng giống như đèn treo trước gió, sinh mạng hiểm nguy, chết lúc nào không biết.
Bởi vì Trời đất hay trộm lấy cái huyền khí trong mình con người, mà nếu nhơn thân bị mất hết huyền khí thì phải chết. Như may gặp đặng minh sư chỉ vẽ phép cướp cái huyền khí của Trời đất lại được, mà đem vào trong mình, thì cái xác mình được đầy đủ sung túc huyền khí thì khỏi chết. Đó là phép tu luyện thành Tiên Phật, chớ không có phép chi khác hơn nữa.
Tinh
Tinh có nghĩa thành phần vật chất tinh luyện cao độ cấu tạo thành cơ thể con người, cũng có nghĩa là sức sống hay sinh khí, chia thành hai phần một là Tiên Thiên, một là Hậu Thiên. Phần tinh tiên thiên là sức sáng tạo nguyên thủy của vũ trụ, trời đất thúc đẩy sự sinh sản tiếp tục mãi mãi về sau không bao giờ hết. Con người khi sinh ra nhận phần nào tinh tiên thiên từ cha và mẹ, và chứa đựng ở thận, nằm ở đan điền phía dưới rốn, có công năng điều hành sự phát triển cơ thể.
Tinh hậu thiên là chất do đồ ăn, thức uống đã được toàn bộ hệ thống tiêu hóa tinh lọc, điều chế dưới các dạng như chất kích thích cho sự phát triển (hormones), chất hữu cơ kích thích tạo thành trong các tế bào(enzyme), chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters), dịch não tủy( cerebrospinal fluid), dịch bạch huyết (lymphatic fluid) v.v. Tinh hậu thiên nằm ở xương cùng mang quan hệ mật thiết với cơ năng tiêu hóa và tính dục.
Khí
Khí trong phạm trù y học có nghĩa là sức sống tràn ngập khắp mọi tế bào, tác động mọi cơ quan mọi bộ phận trong cơ thể, nói cách khác:”Có khí thì sống, không khí thì chết”. Khí giống như dòng điện chạy trong máy vi tính, nếu không có điện thì tất cả sẽ ngừng hoạt động ngay tức khắc.
Về mặt khí Tiên Thiên hay còn gọi là nguyên khí là sức năng lượng đầu tiên khởi thủy của toàn vũ trụ được biểu hiển qua sức nóng, ánh sáng, những chuyển động và những năng lượng vũ trụ khác Năng lượng vũ trụ như không khí vào cơ thể qua sự điều tức. ánh sang được hấp thụ qua làn da và thị giác.
Khí tiên thiên nguyên thủy của con người phát xuất từ hai nguồn. Một là sự chuyển biến từ tinh tiên thiên chứa ở tuyến thượng thận cũng còn được gọi là nguyên khí, bất cứ ai cũng có cả. Muốn đạt được điều này cấn phải có công phu tu luyện. Nguồn thứ hai là năng lượng vũ trụ như trình bày ở trên.
Về mặt khí hậu thiên hay còn gọi là đất do đồ ăn, nước uống, và những chất cần thiết cho dinh dưỡng biến thành. Hai nguồn khí tiên thiên và hậu thiên hòa hợp lẫn nhau tạo thành sức sống, nguồn sinh khí vận hành khắp toàn thân, mọi mạch máu,có tác dụng bảo vệ, chống đỡ tà khí xâm nhập, lực căn bản tối cần thiết cho đời sống con người.
Thần
Thần ở đây ám chỉ Tâm Đạo và mọi hoạt động thuộc về tư tưởng, ý thức và tâm linh con người.
Thần tiên thiên còn gọi là nguyên thần, là linh hồn bất tử, là ánh sáng khởi thủy cho ý thức. Nó cũng chính là tia lửa vĩnh cửu của nhận thức, không có sự sinh cũng như sự chết, không có hình thù, cháy sáng và ngự trị ở trong tim.
Thần của hậu thiên được biểu hiện qua những ý tưởng, cảm giác, cá tính con người. Thần hậu thiên là những sinh hoạt thuộc về não bộ và nằm ở trên đầu. Thần hậu thiên trong phạm trù tư duy có nghĩa là trạng thái tâm con người được chia thành hai phần, một phần là cảm nhận trú ngụ ở tim tương ứng với hỏa khí.
Theo đạo giáo gọi là thần, hay tâm đạo, phật giáo gọi là phật tánh. Đức tính này nằm tiềm ẩn trong tất cả chúng ta nhưng luôn luôn che lấp bởi vọng niệm, bởi cảm giác ảo tưởng của ngũ quan. Vì thế có những người không hề hay biết hay không có khả năng đánh thức nó dậy cho đến khi chết. Nó là tấm gương sạch không một vết bụi có thể phản chiếu mọi sự vật trên thế gian. Trái lại tâm con người hay tâm chúng sinh là tấm gương đầy tì vết, phủ đầy bởi tấm màn vô minh, dục vọng, hằn lên bởi tư tưởng hữu vi. Để trở về tâm uyên nguyên, tâm trong sáng chỉ bằng cách thực hành chứ không bằng sách vở, bằng cách quên đi những ý nghĩ, tư duy và để chúng ra đi chứ không giữ lại, bằng sự tổng hợp những quan niệm mâu thuẫn chứ không phải những khác biệt giáo lý các trường phái.
Chính vì thế Lão Tử đã mở đầu Đạo Đức kinh bằng câu:” Đạo Khả đạo phi thường đạo.” Có nghĩa khi nói cái gì đó là Đạo thì sẽ không còn là Đạo nữa.
Để áp dụng tư tưởng này vào dưỡng sinh, gìn giữ sức khoẻ, tăng thêm tuổi thọ, hành giả phải hiểu rõ tính chất tập luyện thường xuyên, phòng bệnh chứ không phải chờ đến khi bệnh rồi mới chữa. Đó cũng chính là nguyên tắc tu dưỡng quân bằng Tinh, Khí, Thần, dung hợp với vận chuyển vũ trụ, hài hòa với trời đất.
Do đó tu tập thiền và khí công để quân bằng, phối hợp điều hòa tinh, khí, thần, thường xuyên lau chùi những lớp bụi che lấp tâm đạo, kiểm soát những cảm giác ngũ quan, biết kiềm chế những cảm xúc, tránh xa những ham muốn không cần thiết, để đạt đến trạng thái thanh tịnh cao nhất và làm sống lại tâm đạo, thần khí của tiên thiên. Người đạt đến cảnh giới này thì tâm luôn luôn “biết vui với trời, không oán trời, không chê người, không lụy vật”, hơn thế nữa “cùng cũng vui, thông cũng vui”. Bởi vì hành giả đã hòa cùng một nhịp với trời và đất.
http://www.daotam.info/booksv/tvrtdtkt1.htm
...
TINH
Là phần tinh hoa của con người là cốt lõi của khí tiên thiên (do cha mẹ tạo ra) và khí hậu thiên (do ăn uống và hít thở dưỡng khí) kết hợp mà thành, không nên làm tiêu hao tinh lực trong các trò ăn chơi sa đọa. Tinh là chất dinh dưỡng hấp thụ từ tinh hoa đồ ăn sau khi được chuyển hoá cấu tạo nên cơ thể và dinh dưỡng cơ thể. Cái đem đến sự sống gọi là tinh . Tinh do thận tiết ra, mà thận là chủ của thủy nhận lấy tinh hoa của ngũ tạng, lục phủ mà tích trữ, cho nên ngũ tạng hưng thạnh thì tinh tràn đầy. Tinh là nguồn gốc của thân thể , nên giữ gìn được tinh thì không sợ bệnh hoạn. Nếu nguyên âm kém, thì nguyên dương lấn áp, giao động (hay ngược lại), làm sức đề kháng của cơ thể bị giảm súc thì tà khí xâm nhập mà phát sanh bệnh.
KHÍ
Khí là chất li ti khó thấy như tinh khí của thức ăn chất uống lưu hành trong thân thể.
Khí là sức hoạt động của nội tạng như khí lục phủ, khí ngũ tạng…Như vậy, khí bao hàm cả hai loại trênTheo nguồn gốc thì khí trời hít thở vào phổi và khí hoá sinh ra trong thức ăn uống đều gọi là khí hậu thiên.
Còn khí chứa ở thận gọi là khí tiên thiên, vì nó bao gồm khí nguyên âm (thận âm) và khí nguyên dương (thận dương) bẩm thụ ở tiên thiên , nên còn gọi là nguyên khí.
Hai khí tiên thiên và hậu thiên bao trùm bốn thứ: nguyên khí, tôn khí, dinh khí và vệ khí. Tôn khí (thượng tiêu ) chưá ở Thượng khí hải tại giữa ngực . Đó là chỗ vừa qui tụ vừa xuất phát vận hành trong toàn thân rồi lại trở về tại đó.Tôn khí và nguyên khí, một chứa ở lồng ngực và một chứa ở thận kết hợp nhau mới nuôi dưỡng cả cơ thể. Ta gọi chung cả hai là chân khí. Chân khí kết hợp với cốt khí làm cho cơ thể khỏe mạnh.
Dinh khí (Trung tiêu) là thứ khí của thức ăn uống thuộc âm. Âm tính nhu thuận cho nên dinh khí đi ở trong mạch.
Vệ khí (hạ tiêu) là khí mạnh trong đồ ăn uống nên thuộc dương đi ngoài mạch .Khi ta luyện khí thì âm dương ức chế lẫn nhau. Nếu tôn khí, dinh khí, vệ khí bất hoà trở ngại, ta sẽ bị bệnh.
THẦN
Thần là thái cực, là huyền bí của đại não nơi cơ thể con người. Thần chủ đạo việc phối hợp khí hóa âm dương .Thần biểu hiện sức sống. Cho nên thần còn thì sống, thần chết thì hết. Thần sung mãn thì ngươì khỏe mạnh , thần suy kém thì người yếu đuối.
Quan hệ giữa tinh, khí, thần trong mỗi cơ thể là mấu chốt chủ yếu để duy trì sự sống. Cái mạng con người bắt đầu từ tinh, sống được là nhờ khí, mà chủ sinh mạng lại là thần. Để cho pháp luân thường chuyển thì khí sinh tinh, tinh dưỡng khí, khí dưỡng thần, rồi thần lại hoá khí. Tam bửu hổ tương lẫn nhau. Tinh là cơ sở của thần, khí từ tinh hoá ra. Thần là mặt biểu hiện của khí.
Sự thăng trầm của tinh , khí, thần quan hệ đến mạnh yếu của thân thể, sự mất còn của sự sống. Vì thế cổ nhân mới gọi tinh khí thần là tam bửu (ba món báu ), tức là nguồn gốc sinh mạng của con người. Các nhà đaọ học coi thần là Thái cực nơi cơ thể con người . Thần chủ đaọ viêïc phối hợp khí hóa âm dương mà ta thường gọi là thần khí, thần sắc. Nên thần mất tạng tuyệt, vì các tạng có nhiệm vụ : can tàng hồn , tâm tàng thần, thận tàng tinh, phế tàng phách và tỳ tàng trí ý. Như thế , thần luân chuyển họat động , biến hóa vô cùng , không có chúng sanh nào mà không có thần ngự trị.
MỤC ĐÍCH LUYỆN KỶ TU CHƠN
Luyện kỷ là tự luyện mình ( kỷ là tự mình ) lập cái tâm cho dứt sự thương yêu (diệt dục ), trìu mến , và mọi quyến rũ của thế gian (trường trai ) là tập làm chủ bản thân mình . Tu đơn , tu chơn , thiền định, hay luyện kỷ là một trong các cách nói khác nhau . Hườn hư là an tịnh cái tâm , luyện cho khí hậu thiên tiếp vơí khí tiên thiên. Hễ hườn hư là đạt đạo.Ngoài việc nâng cao chính khí để cơ thể nhẹ nhàng thuần dương đắc quả, việc luyện tinh khí thần là tập cho con người tính điềm đạm ,vui tươi, lòng nhân ái, có những suy nghĩ tốt , bỏ tư tưởng xấu xa, tăng cường hoạt động nội tạng mà còn sửa mình , trừ khử các bịnh và diệt thất tình , lục dục nữa.
Vì giận thì hại can (can thuộc mộc), mừng quá hại tâm (tâm thuộc hoả) , lo nghĩ hại tỳ (tỳ thuộc thổ) buồn quá hại phế (phế thuộc kim) , sợ hãi hại thận (thận thuộc thủy).
Thế nên bỏ giận dữ để nuôi dưỡng tinh, ít lo nghĩ để nuôi dưỡng thần, bớt nói để nuôi dưỡng khí, ngăn lòng ham muốn để nuôi dưỡng tâm.
Muốn nuôi dưỡng tâm phải nuôi dưỡng thần trước.
Muốn nuôi dưỡng thần phải nuôi dưỡng khí trước.
Muốn nuôi dưỡng khí phải nuôi dưỡng tinh trước.
Muốn nuôi dưỡng tinh phải nuôi duỡng chí trước.
Muốn nuôi dưỡng chí phải nuôi dưỡng thần trước.
Việc luyện đaọ chỉ có một mục đích, nhưng mỗi thời kỳ có tên khác nhau. Phật Giáo chú trọng “Hư vô tịch diệt” nên dùng phép thiền định mà giữ lòng không cho xao động.
Đạo Tiên chú trọng “ thanh tịnh vô vi” để tùng thiên lý, quyết không để cái tâm lưu luyến hồng trần , tức lánh trần.
Đạo Nho chú “ tồn tâm dưỡng tánh”, chỉ tĩnh toạ để tạo cái tính tiết độ cao siêu của bậc quân tử.
Đại Đạo thì chú trọng luyện “tam bửu, ngũ hành” mỗi ngày công phu bốn lượt và tịnh luyện một lần để nuôi dưỡng linh hồn, vì đó là mục đích trọng yếu của tu thân.
Luyện tinh khí thần, chủ yếu là luyện khí. Khí vào buồng phổi rồi luân lưu khắp châu thân để nuôi dưỡng cơ thể . Vậy luyện khí tức là luyện thở.
Con người có thể nhịn ăn 50 ngày, nhịn uống 5 ngày, nhưng chỉ nhịn thở vài phút thì sự sống không còn.
Khi còn bào thai trong bụng mẹ thì bà mẹ đã thở cho thai nhi .Khi sanh ra, cuống rún bị cắt rời tách khỏi nguồn thở của mẹ. Thán khí trong máu trẻ sơ sinh tăng cao khiến nó phải khóc giúp cho hai lá phổi bung ra.
Thế là sự hô hấp của đứa bé bắt đầu thở cho đến cuối cuộc đời của nó. Như vậy sợi nhau thai thay thế bởi sợi sinh khí đem sự sống của khí trời vào cho con người . Sợi khí đó là hơi thở. Hơi thở là sự sống, mà sống là phải thở. Nhưng thở cách nào cho sự sống khỏe mạnh và sống lâu dài, đó là cả một nghệ thuật nên phải luyện khí vừa để nuôi cơ thể, vừa để dưỡng thần chí.
LUYỆN KHÍ
Muốn tham thiền nhập định, trước phải luyện khí. Thế nên luyện khí rất quan trọng. Đức Chí Tôn dạy:
“ Bởi lẽ luyện khí chưa thành thuộc mà vào tham thiền, dinh khí và vệ khí phản khắc nhau (như trình bày ở trước) thì tẩu hỏa nhập ma, do người tu luyện không biết thở cho đúng cách.
Muốn tịnh tâm (an tâm) , ta phải thở bằng bụng: phình bụng là hít vào, thót bụng là thở ra, thở như vậy để trái tim được thong thả.
TÍNH CHẤT CỦA LUYỆN THỞ
1-Thở sâu và thong thả:
Khi thở ra, khí dơ trong các phế nang được thải ra hết. Khi hít vào, khí trong lành phải đi qua mũi đủ thời gian điều hòa nhiệt độ của không khí và đủ thời gian khi đi vào tận phế nang sâu nhất. Chính vì thế mà ta phải thở sâu và thong thả mới bảo đảm sự trao đổi khí bên trong cơ thể được trọn vẹn.
2-Thở êm nhẹ:
Biểu hiện sự thoải mái trong tâm hồn, hơi thở ra hoặc hít vào không có tiếng động, người ngồi bên cạnh không nghe được hơi thở của ta. Hãy đặt một cái lông trước lỗ mũi, nếu hơi thở lay động cái lông, tức hơi thở chưa êm nhẹ.
3- Thở đều nhịp:
Vì các cơ quan trong thân thể đều tuân theo một nhịp điệu nhất định để giữ thế cân bằng, ổn định sinh lý và phụ thuộc vào nhịp thở và nhịp tim. Hai loại nhịp nầy quan hệ mật thiết với nhau. Do đó thay đổi nhịp thở cơ thể ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý của tim, tốt hay xấu tùy theo nhịp thở mau hay chậm.
Phải giữ đều nhịp thở từ đầu đến cuối lúc luyện khí, 8 lần trong một phút là tốt.
THỞ BẰNG MŨI
Thở ra và hít vào đều bằng mũi , vì mũi là bộ máy điều hòa không khí của thân người không khí hít vào được những nếp gắp trong hốc mũi hấp nóng , cản bụi, tạo đủ điều kiện đề vào phổi.
Nếu hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng thì mạch nhâm mạch đốc bị rời ra và độ nóng không khí dần dần mất nhiệt nên sẽ bị lạnh, gây ra sổ mũi hay sưng phổi. Còn thở ra bằng mũi thì nhiệt độ được bảo toàn giúp cho mũi điều hoà được không khí hít vào .Mũi còn có vai trò điều tiết lưu lượng không khí hít vào và thở ra. Nếu thở bằng miệng thường làm thay đổi tỉ lệ đó và làm mất cân bằng hoạt động hô hấp.
Thở bằng miệng chỉ nên dùng trong trường hợp khẩn cấp do cơ thể đòi hỏi mà thôi.
Thở bằng mũi còn có lợi là vì các đầu dây thần kinh khứu giác tập trung bên trong đó, giúp ta phân biệt được mùi hương để khám phá mọi sự thay đổi ô nhiểm của không khí mà cơ thể có phản ứng tự vệ tức thời. Khi tập thở thì thả lỏng các cơ bắp không tham gia vào động tác thở, như tay chân chẳng hạn. Hai mắt phải lim dim hoặc nhắm hẳn lại để dễ dàng tập trung ý tưởng vào Hạ khí hải (tức Đơn điền). Nhờ đó ta tưởng tượng khí lọt vào mũi nhẹ nhàng làm bụng phình lên, xẹp xuống. Tới một lúc, ta cảm hấy hơi thở dương khí lôi cuốn mình đi…và ta sắp bước sang trạng thái khoan khoái kỳ lạ phiêu diêu.
NHỮNG ĐIỂM CƠ BẢN VỀ THỞ BỤNG
Khi tập thở phải lưu ý những điểm sau đây: 1- Với tư thế nằm, ngồi gì cũng được, thường là ngồi xếp hoa sen, để hai bàn tay ngữa phía dưới Đơn điền. Hai vai không lay động , vì nếu nhúc nhích sẽ làm cản trở động tác hô hấp. 2- Luôn luôn thể hiện trong tâm hình ảnh : phình bụng hít vào, xẹp bụng thở ra cho hết thán khí Thở sâu, thong thả, nhẹ nhàng và đều nhịp.
Tập thở thuần thuộc đến độ nào đó không cần tập nữa mà cơ thể phản xạ thở tự nhiên theo thói quen.
Thầy Mạnh Tử viết rằng: “Thi tập nghĩa sở sanh, phi nghĩa tập nhi thủ chi”. Nghĩa là làm theo đạo pháp thì khí sanh mà không dùng sức để cưỡng chế. Thầy cũng nói: “Tất hữu sự yên, nhi vật chánh. Tâm vật động. Vật tư trưởng dả”. Aét có sự đến (khí sanh) nhưng đừng dùng sức mạnh ép khí.Tâm không động mà chẳng lưu ý trợ trưởng nữa. Thầy cho phép luyện thở như cách trồng lúa, muốn lúa mau lên thì phải năng chăm bón chớ chẳng phải lấy tay nhóm gốc, chẳng khác gì thúc bách khí chóng đến mà không biết pháp nuôi dưỡng khí thì không bao giờ đạt hiệu quả.
TỌA TỊNH
Ngay từ buổi đầu khai Đạo, Đức Chí Tôn đã dạy các môn đệ cần phải tịnh luyện:
Thành tâm niệm Phật
Tịnh , tinh , tịnh, tỉnh, tỉnh.
Tịnh là vô nhứt vật,
Thành tâm hành đạo (pháp)
(Đàn đêm 14-1-1926) Muốn tọa tịnh, trước phải nhập định. Nhập định là làm cho tâm thần yên ổn, không nghĩ suy điều chi, chỉ nuôi dưỡng duy nhất tư tưởng thánh thiện trọn lành. Giờ nhập định tốt nhất là sau lễ thời mẹo, dậu . Các tịnh viên sắp đàn, ngồi hoa sen như ngồi cúng ở Đền Thánh , lấy dấu Thầy xong ,bắt đầu niệm các bài kinh, nghĩa là đọc thầm bằng tư tưởng mà không phát ra thành tiếng để dứt tam nghiệp: khẩu , ý (tâm) thân mà diệt tam độc: tham , sân ,si.
Tịnh khẩu chú
Lời ăn nói là nơi lỗ miệng
Tiếng luận bàn liệu biện đề phòng.
Giữ cho miệng đặng sạch trong,
Gìn tâm minh chánh rèn lòng niệm kinh
(1 lạy )
Tịnh tâm chú
Lòng người đặng tánh linh hơn vật
Biết kỉnh thành dè dặt khôn lanh
Khá tua lánh dữ làm lành
Những điều nghiệt ác hóa thành khói tan .
(1 lạy)
Tịnh thần chú
Ở trần thế bụi nhơ thân vấy
Khí trược xin bốc tẩy thành hơi
Đạo tâm giữ sạch chẳng dời
Lòng thành kỉnh lạy Phâït Trời chứng tri.
(1 lạy)
Ngay sau đó là tâm thiện niệm. Thầy đã dạy : “Dầu không Thiên phong hễ gắng tâm thiện niệm thì ngôi vị cũng đạt hồi đặng “ (Đàn đêm 17- 9 1927 ), rồi tiến vào tọa thiền.Muốn tọa thiền phải tập trung ý tưởng cao, xóa bỏ tư tưởng thiện ác lởn vởn trong tâm. Âm thanh đập vào tai nghe như không nghe. Ánh sáng chói vọi vào mắt thấy mà như không thấy, tạo cái tâm phá chap.
Muốn tĩnh tọa phải là một cái bồ đoàn, hình tròn đường kính 2 tấc, cao 1 tấc, dồn gòn. Bồ đoàn để giữa cái niệm hình vuông cạnh 6 tấc. Tu sĩ ngồi lên bồ đoàn xếp hoa sen như ngồi cúng ở Tòa Thánh.
Xương cùn chiếu đúng giữa bồ đoàn, nghiêng qua, nghiêng lại cho chính rồi chỉnh thân cho ngay thẳng, hai ống chân kéo sát vào thân, sau đó nới lỏng dây lưng, cổ áo cho thoải mái. Lấy mu bàn tay trái để lên lòng bàn tay phải (nữ thì làm ngược lại ). Hai ngón tay cái tiếp xúc với nhau, cạnh ngón út bàn tay đặt nhẹ vào dưới đơn điền..lưng thẳng , đầu hơi cuối xuống, mắt nhắm ¾. Gương mặt bình thản và bắt đầu thở bằng bụng (thai tức) . Nhớ ngậm miệng lại , răng khít răng, lưỡi kề răng làm như vậy giúp cho mạch nhâm và mạch đốc giao nhau. Nước miếng sẽ chảy ra gọi là huỳnh tương cam lộ, hãy nuốt từng ngụm một, gọi là ngọc dịch hườn đơn , nước miếng đó chính là tinh, tinh hóa khí, khí hóa thần.Nhờ đó điển trong người không thất thoát (trở lại trên) và luôn được pháp luân thường chuyển.
Nếu nằm ngữa thì buông lỏng cơ thể, thở tự nhiên , nhắm mắt ngậm miệng. Đặt huyệt lao cung của hai lòng bàn tay vào ngay huyệt Đơn điền.
Nếu nằm nghiêng bên trái thì đặt huyệt lao cung tay trái vào dái tai , lóng ngón tay út đặt lên huyệt Thái dương , chân trái duỗi thẳng, chân mặt hơi co, Huyệt Lao cung tay phải đặt trên huyệt hoàn khiêu . Nằm nghiêng bên phải thì ngược lại.
Cứ thở đều đều cho huyền khí bên ngoài hòa lẫn với nguyên khí bên trong người thành chơn nhứt khí để nuôi cơ thể. Dẹp bỏ hết mọi ước muốn ở cõi trần gian , giữ cái tâm thanh tịnh, một ngày nào đó mà takhông thể biết trước được , tự nhiên thần khí của ta sáng bừng lên cảm thấy chân lý. Đó là lúc điểm sáng linh quang được bật cháy tỏa quanh thân ta, ấn chứng ngộ đạo . (1)
Lục Tổ dạy: “Một khi đã ngộ, thì chỗ nào cũng vậy . Muốn hồi hướng về Phật phải theo tự tánh mà hành chớ cầu ở ngoài thân. Tâm giác ngộ sáng suốt là Phật, Tâm ấy phóng đại quang minh phá hết lục dục chiếu vào tự tánh làm cho tam độc dứt liền , các tội đều tiêu diệt, trong ngoài sáng tỏ chẳng khác gì cõi Tây phương”.
Tịnh từ 1 đến 2 giờ , muốn xả tịnh thì hai bàn tay chà sát vào nhau cho nóng gọi là “âm dương ký tế” rồi chà từ mặt lên trán ra sau ót , đoạn vuốt hai bên tai , hai cánh tay, hai ống chân. Sau cùng, hai bàn chân tự chà vào nhau, rồi đứng lên đi lại bình thường.
ĐỨC THANH SƠN ĐẠO SĨ
Giáng cơ năm Giáp Dần -----------------------------------------------------
Ngộ có ba bậc: khải ngộ và chứng ngộ
Khải ngộ phải nhờ thiện trí thức chỉ dẫn phép tu niệm đọc kinh đọc sách, gọi là trí hưũ sư.
Giải ngộ là nhân nghe một câu kinh hay lời giảng đạo Thánh hiền, liền thấy được bản tánh nhanh như chớp (sát na).
Chứng ngộ là công phu tịnh luyện viên mãn , an trụ tánh giác trọn vẹn do tịnh luyện mà phát ra, không nhờ sự giúp đỡ của ai , gọi là trí vô sư. Được chứng ngộ mới đạt bất sanh bất diệt tức giải thoát sinh tử mà hằng sống.
TINH THẦN THÁNH THIỆN
Nếu tu luyện đúng mức ta trở thành Thánh thiện , không những vậy vô hình trung, nhờ luyện khí cơ thể được khoẻ mạnh. Phương ngôn có câu : “Tinh thần Thánh thiện trong xác thân khang kiện” ( Une Aâme sainte dans un corps sain). Nói cách khác, xác thân khỏe mạnh mới có tinh thần Thánh Thiện.
Thầy cũng dạy:’’ Tham thiền nhập định là để tâm thần yên ổn hầu có sửa mình màtrừ khử các bịnh và diệt thất tình lục dục”.
Thật vậy luyện tam bưủ ngũ hành theo cổ nhân là để điều hòa mọi hoạt động sinh lý nội tạng và thần kinh . Trong sinh hoạt hằng ngày, cơ thể bị thay đổi luôn, hơi thở cũng phải thay đổi cho thích ứng. Ngồi bàn làm việc, chân tay ít hoạt động , mệt mõi; thay vì hút thuốc lá, hãy thở sâu 5 lần sẽ thấy khoan khoái . Khi lao động nặng nhọc, máu chứa đầy urê và acid lactic , hãy cứ thở sâu như trên đây sẽ thấy kết quả tốt.
Khi giận dữ, cáu gắt, nhịp tim đập dồn dập, hơi thở rối lên. Để nén cơn giận, ta hít vào thật sâu, đưa cơ hoành nén hơi giữ khí lại rồi thả ra từ từ. Làm như thế 5 lần cơn giận sẽ hết.
Đêm nằm không ngũ được, ngồi dậy xếp hai chân cho chặt làm động mạch đùi bị ép lại và thở như trên, rồi nằm xuống. Máu động mạch dồn trở lại hai bàn chân , đồng thời lôi cả máu từ não xuống, cơ thể chuyển sang trạng thái thiếp ngủ .
Thở bằng bụng có thể trị được nhiều chứng bệnh . Nhờ thở bằng cơ hoành, coi như trái tim thứ hai (deuxième coeur- veineux ) giúp người bị suy tim thoải mái vì tim ít gắng sức. Khi lên cơn hen suyển, ngồi thẳng thở ra một hơi dài sâu và tập trung ý xuống vùng dưới bụng đang thót vào như để đẩy khí ra thật hết rồi tự động hít nhẹ nhàng vào. Cố tập thời gian dài sẽ cắt đứt được cơn hen.
Khi thở bằng bụng, cơ hoành coi như cây thụt xoa bóp nội tạng như dạ dày, gan , ruột ; nên có tác dụng trị bón và loét dạ dày; đặc biệt kích thích tuần hoàn tĩnh mạch gan, làm tiêu tan xung huyết để ổn định tiêu hóa và hạ bịnh cao huyết áp.
Tóm lại , luyện khí thở bằng bụng tăng cường sức đề kháng và nâng cao sức khỏe cho cơ thể, tạo niềm tin mình tự chửa bịnh cho mình . Thế mới hay luyện tam bưủ đồng nghĩa với luyện tập dưỡng sinh cho thân khoẻ mạnh . Bởi lẽ, tinh thần Thánh Thiện chỉ có trong xác thân khang kiện.
DƯỠNG SINH THI
Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ đã dạy:
Tích khí tồn tinh , cánh dưõng thần
Thiểu tư quả dục , vật lao thân
Thực bôi bán bão vô kiêm vị
Ẩm chỉ tam phân mạc quá tầng
Mỗi bá hí ngôn , đa thú tiếu
Thường hàm lạc ý , mạc sinh sân
Nhiệt viêm biến trá, đô hưu vấn
Nhiệm ngã tiêu giao quá bách xuân
Dịch nghĩa:
Giữ khí , gìn tinh , lại dưỡng thần
Ít lo ít muốn , ít lao thân
Cơm nên vừa bụng đừng nhiều vị
Nước chỉ vài phân, chớ quá tầng
Môi cứ câu đùa vui miệng mãi
Dạ thường nghĩ tốt bụng lâng lâng
Nóng hờn , biến trá, thôi đừng hỏi
Để NGÃ tiêu giao đến tuổi trăm.
Đại ý bài thơ:
Luyện tinh khí thần mục đích là để trường sinh , có sức khỏe để yêu đời , yêu người, không giận hờn, gian trá, ham muốn, mưu toan. Cứu cánh của người tu là thanh đạm ít món ăn vừa đủ no, uống từng ngụm nhỏ vì nước nhiều làm mệt tim.
Bởi lẽ bệnh tật phát sinh do ăn uống quá độ, tích tụ nhiều năm làm cơ thể mất quân bình âm dương mà sinh nhiều chất độc. Chỉ ăn khi đói , chỉ uống khi khát. Aên những chất thuần dương, như ngũ cốc xay lức và hoa quả. Tuyệt đối không ăn các thức có chất hóa học và các loại cà, măng, nấm… Được như vậy sống sẽ đến trăm tuổi già (quá bách xuân).
http://antruong.free.fr/nenthonghieu3chu.html
...
TAM HUÊ TỤ ÐẢNH, NGŨ KHÍ TRIỀU NGƯƠN LUẬN
Tam huê ấy là Tinh, Khí, Thần. Tinh, khí, thần ban đêm thì trú nơi thận. Còn ban ngày thì ở 3 nơi khác nhau. Ba chỗ ấy là: Tinh ở nơi lổ tai, Khí ở nơi miệng, Thần tại con mắt. Miệng nói tai nghe, con mắt thấy điều này điều kia, mà làm cho lần lần hao mòn tinh, khí, thần.Kẻ tu hành phải lấy chơn ý thâu tinh, khí, thần.
Ðem cho nó vào trong kim đảnh, đó là tam huê tụ đảnh: Đạo.
Ngũ khí triều ngươn là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ tức là ngũ hành. Ðêm ngày mỗi món đều ở yên một chỗ, nghĩa là phần của hành nào thì hành này phải ở đó, chẳng được đi bậy qua chỗ khác. Ban ngày thì kim khí ở nơi con mắt, mộc khí ở nơi lổ tai, thủy khí ở tại lổ miệng, hỏa khí ở tại lổ mũi, thổ khí nơi ngoài da. Còn ban đêm thì kim khí ở tại phổi, mộc khí trú tại gan, thủy khí trú tại thận, hỏa khí trú tại tim, thổ khí trú tại bao tử. Mỗi ngày ngũ khí đều có hao kém bởi vì ngũ tạng là tâm, cang, tỳ, phế, thận nó hay chuyển động.
Như may mà gặp được minh sư truyền chỉ phép hồi quan phản chiếu, đặng làm cho ngũ hành triều tựu (chầu nhóm) nơi huyền-quan-khiếu. Ðó là ngũ khí triều ngươn.
...
Đất có ba báu là: Thủy, Hỏa, Phong
Người có tam bửu là: Tinh, Khí, Thần.
Rượu tượng trưng cho khí
Bông tượng trưng cho tinh
Trà tượng trưng cho thần
Trời có ba báu ấy mà hoá sanh vạn vật, dưỡng dục muôn loài, chuyển luân càn khôn thế giới, phân ranh ngày đêm. Đất nhờ ba báu ấy mà mưa gió điều hòa, cỏ cây tươi nhuận thời tiết có bốn mùa. Người có tam bửu để nuôi dưỡng thân thể, minh mẩn phát kiến khoa học giúp nhân loại.
Nếu tinh đầy đủ, bạn chẳng cảm thấy lạnh; nếu khí đầy đủ, bạn chẳng thấy đói; nếu thần đầy đủ, bạn chẳng buồn ngủ. Tinh, khí, thần (theo Ðạo giáo) gọi là Tam Bảo. Lý này cũng tương tợ như Phật Pháp Tăng (Phật-Pháp-Tăng chính là Giác-Chánh-Tịnh) của nhà Phật.
Tam bửu là Tinh, Khí, Thần mỗi ngày đều theo con mắt, lổ tai, lổ nhỉ, lưỡi, thân, ý mà tiêu tán ra hồng trần. Chẳng biết giữ chặc chịa, cho nên chưa đến tuổi già mà đã hao mòn tam bửu, không đặng trường sanh. Hễ con mắt ngó thấy sắc đẹp thì cái thần bị cướp. Lổ tai nghe lời dâm dục, hoặc ca hát thì tinh bị cướp. Lổ miệng hay ăn đồ ngon ngọt thơm tho thì khí bị cướp.
Tinh, khí, thần ban đêm thì trú nơi thận. Còn ban ngày thì ở 3 nơi khác nhau. Ba chỗ ấy là: Tinh ở nơi lổ tai, Khí ở nơi miệng, Thần tại con mắt. Miệng nói tai nghe, con mắt thấy điều này điều kia, mà làm cho lần lần hao mòn tinh, khí, thần. Kẻ tu hành phải lấy chơn ý thâu tinh, khí, thần.
Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ tức là ngũ hành. Ðêm ngày mỗi món đều ở yên một chỗ, nghĩa là phần của hành nào thì hành này phải ở đó, chẳng được đi bậy qua chỗ khác. Ban ngày thì kim khí ở nơi con mắt, mộc khí ở nơi lổ tai, thủy khí ở tại lổ miệng, hỏa khí ở tại lổ mũi, thổ khí nơi ngoài da. Còn ban đêm thì kim khí ở tại phổi, mộc khí trú tại gan, thủy khí trú tại thận, hỏa khí trú tại tim, thổ khí trú tại bao tử. Mỗi ngày ngũ khí đều có hao kém bởi vì ngũ tạng là tâm, cang, tỳ, phế, thận nó hay chuyển động.
Con người qui được tam bửu ngũ hành thì đắc quả đạt đạo, còn chơi bời trác táng làm hư hoại tam bửu ngũ hành thì thân bại , hình người mà dạ thú. Vậy phải giữ gìn tinh , khí , thần như báu vật.
Tinh – Khí – Thần của con người thường được ví như ngọn đền dầu, nếu dầu tiêu hao hoang phí, tất ngọn đèn cũng giống như đèn treo trước gió, sinh mạng hiểm nguy, chết lúc nào không biết.
Bởi vì Trời đất hay trộm lấy cái huyền khí trong mình con người, mà nếu nhơn thân bị mất hết huyền khí thì phải chết. Như may gặp đặng minh sư chỉ vẽ phép cướp cái huyền khí của Trời đất lại được, mà đem vào trong mình, thì cái xác mình được đầy đủ sung túc huyền khí thì khỏi chết. Đó là phép tu luyện thành Tiên Phật, chớ không có phép chi khác hơn nữa.
Tinh
Tinh có nghĩa thành phần vật chất tinh luyện cao độ cấu tạo thành cơ thể con người, cũng có nghĩa là sức sống hay sinh khí, chia thành hai phần một là Tiên Thiên, một là Hậu Thiên. Phần tinh tiên thiên là sức sáng tạo nguyên thủy của vũ trụ, trời đất thúc đẩy sự sinh sản tiếp tục mãi mãi về sau không bao giờ hết. Con người khi sinh ra nhận phần nào tinh tiên thiên từ cha và mẹ, và chứa đựng ở thận, nằm ở đan điền phía dưới rốn, có công năng điều hành sự phát triển cơ thể.
Tinh hậu thiên là chất do đồ ăn, thức uống đã được toàn bộ hệ thống tiêu hóa tinh lọc, điều chế dưới các dạng như chất kích thích cho sự phát triển (hormones), chất hữu cơ kích thích tạo thành trong các tế bào(enzyme), chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters), dịch não tủy( cerebrospinal fluid), dịch bạch huyết (lymphatic fluid) v.v. Tinh hậu thiên nằm ở xương cùng mang quan hệ mật thiết với cơ năng tiêu hóa và tính dục.
Khí
Khí trong phạm trù y học có nghĩa là sức sống tràn ngập khắp mọi tế bào, tác động mọi cơ quan mọi bộ phận trong cơ thể, nói cách khác:”Có khí thì sống, không khí thì chết”. Khí giống như dòng điện chạy trong máy vi tính, nếu không có điện thì tất cả sẽ ngừng hoạt động ngay tức khắc.
Về mặt khí Tiên Thiên hay còn gọi là nguyên khí là sức năng lượng đầu tiên khởi thủy của toàn vũ trụ được biểu hiển qua sức nóng, ánh sáng, những chuyển động và những năng lượng vũ trụ khác Năng lượng vũ trụ như không khí vào cơ thể qua sự điều tức. ánh sang được hấp thụ qua làn da và thị giác.
Khí tiên thiên nguyên thủy của con người phát xuất từ hai nguồn. Một là sự chuyển biến từ tinh tiên thiên chứa ở tuyến thượng thận cũng còn được gọi là nguyên khí, bất cứ ai cũng có cả. Muốn đạt được điều này cấn phải có công phu tu luyện. Nguồn thứ hai là năng lượng vũ trụ như trình bày ở trên.
Về mặt khí hậu thiên hay còn gọi là đất do đồ ăn, nước uống, và những chất cần thiết cho dinh dưỡng biến thành. Hai nguồn khí tiên thiên và hậu thiên hòa hợp lẫn nhau tạo thành sức sống, nguồn sinh khí vận hành khắp toàn thân, mọi mạch máu,có tác dụng bảo vệ, chống đỡ tà khí xâm nhập, lực căn bản tối cần thiết cho đời sống con người.
Thần
Thần ở đây ám chỉ Tâm Đạo và mọi hoạt động thuộc về tư tưởng, ý thức và tâm linh con người.
Thần tiên thiên còn gọi là nguyên thần, là linh hồn bất tử, là ánh sáng khởi thủy cho ý thức. Nó cũng chính là tia lửa vĩnh cửu của nhận thức, không có sự sinh cũng như sự chết, không có hình thù, cháy sáng và ngự trị ở trong tim.
Thần của hậu thiên được biểu hiện qua những ý tưởng, cảm giác, cá tính con người. Thần hậu thiên là những sinh hoạt thuộc về não bộ và nằm ở trên đầu. Thần hậu thiên trong phạm trù tư duy có nghĩa là trạng thái tâm con người được chia thành hai phần, một phần là cảm nhận trú ngụ ở tim tương ứng với hỏa khí.
Theo đạo giáo gọi là thần, hay tâm đạo, phật giáo gọi là phật tánh. Đức tính này nằm tiềm ẩn trong tất cả chúng ta nhưng luôn luôn che lấp bởi vọng niệm, bởi cảm giác ảo tưởng của ngũ quan. Vì thế có những người không hề hay biết hay không có khả năng đánh thức nó dậy cho đến khi chết. Nó là tấm gương sạch không một vết bụi có thể phản chiếu mọi sự vật trên thế gian. Trái lại tâm con người hay tâm chúng sinh là tấm gương đầy tì vết, phủ đầy bởi tấm màn vô minh, dục vọng, hằn lên bởi tư tưởng hữu vi. Để trở về tâm uyên nguyên, tâm trong sáng chỉ bằng cách thực hành chứ không bằng sách vở, bằng cách quên đi những ý nghĩ, tư duy và để chúng ra đi chứ không giữ lại, bằng sự tổng hợp những quan niệm mâu thuẫn chứ không phải những khác biệt giáo lý các trường phái.
Chính vì thế Lão Tử đã mở đầu Đạo Đức kinh bằng câu:” Đạo Khả đạo phi thường đạo.” Có nghĩa khi nói cái gì đó là Đạo thì sẽ không còn là Đạo nữa.
Để áp dụng tư tưởng này vào dưỡng sinh, gìn giữ sức khoẻ, tăng thêm tuổi thọ, hành giả phải hiểu rõ tính chất tập luyện thường xuyên, phòng bệnh chứ không phải chờ đến khi bệnh rồi mới chữa. Đó cũng chính là nguyên tắc tu dưỡng quân bằng Tinh, Khí, Thần, dung hợp với vận chuyển vũ trụ, hài hòa với trời đất.
Do đó tu tập thiền và khí công để quân bằng, phối hợp điều hòa tinh, khí, thần, thường xuyên lau chùi những lớp bụi che lấp tâm đạo, kiểm soát những cảm giác ngũ quan, biết kiềm chế những cảm xúc, tránh xa những ham muốn không cần thiết, để đạt đến trạng thái thanh tịnh cao nhất và làm sống lại tâm đạo, thần khí của tiên thiên. Người đạt đến cảnh giới này thì tâm luôn luôn “biết vui với trời, không oán trời, không chê người, không lụy vật”, hơn thế nữa “cùng cũng vui, thông cũng vui”. Bởi vì hành giả đã hòa cùng một nhịp với trời và đất.
http://www.daotam.info/booksv/tvrtdtkt1.htm
...
TINH
Là phần tinh hoa của con người là cốt lõi của khí tiên thiên (do cha mẹ tạo ra) và khí hậu thiên (do ăn uống và hít thở dưỡng khí) kết hợp mà thành, không nên làm tiêu hao tinh lực trong các trò ăn chơi sa đọa. Tinh là chất dinh dưỡng hấp thụ từ tinh hoa đồ ăn sau khi được chuyển hoá cấu tạo nên cơ thể và dinh dưỡng cơ thể. Cái đem đến sự sống gọi là tinh . Tinh do thận tiết ra, mà thận là chủ của thủy nhận lấy tinh hoa của ngũ tạng, lục phủ mà tích trữ, cho nên ngũ tạng hưng thạnh thì tinh tràn đầy. Tinh là nguồn gốc của thân thể , nên giữ gìn được tinh thì không sợ bệnh hoạn. Nếu nguyên âm kém, thì nguyên dương lấn áp, giao động (hay ngược lại), làm sức đề kháng của cơ thể bị giảm súc thì tà khí xâm nhập mà phát sanh bệnh.
KHÍ
Khí là chất li ti khó thấy như tinh khí của thức ăn chất uống lưu hành trong thân thể.
Khí là sức hoạt động của nội tạng như khí lục phủ, khí ngũ tạng…Như vậy, khí bao hàm cả hai loại trênTheo nguồn gốc thì khí trời hít thở vào phổi và khí hoá sinh ra trong thức ăn uống đều gọi là khí hậu thiên.
Còn khí chứa ở thận gọi là khí tiên thiên, vì nó bao gồm khí nguyên âm (thận âm) và khí nguyên dương (thận dương) bẩm thụ ở tiên thiên , nên còn gọi là nguyên khí.
Hai khí tiên thiên và hậu thiên bao trùm bốn thứ: nguyên khí, tôn khí, dinh khí và vệ khí. Tôn khí (thượng tiêu ) chưá ở Thượng khí hải tại giữa ngực . Đó là chỗ vừa qui tụ vừa xuất phát vận hành trong toàn thân rồi lại trở về tại đó.Tôn khí và nguyên khí, một chứa ở lồng ngực và một chứa ở thận kết hợp nhau mới nuôi dưỡng cả cơ thể. Ta gọi chung cả hai là chân khí. Chân khí kết hợp với cốt khí làm cho cơ thể khỏe mạnh.
Dinh khí (Trung tiêu) là thứ khí của thức ăn uống thuộc âm. Âm tính nhu thuận cho nên dinh khí đi ở trong mạch.
Vệ khí (hạ tiêu) là khí mạnh trong đồ ăn uống nên thuộc dương đi ngoài mạch .Khi ta luyện khí thì âm dương ức chế lẫn nhau. Nếu tôn khí, dinh khí, vệ khí bất hoà trở ngại, ta sẽ bị bệnh.
THẦN
Thần là thái cực, là huyền bí của đại não nơi cơ thể con người. Thần chủ đạo việc phối hợp khí hóa âm dương .Thần biểu hiện sức sống. Cho nên thần còn thì sống, thần chết thì hết. Thần sung mãn thì ngươì khỏe mạnh , thần suy kém thì người yếu đuối.
Quan hệ giữa tinh, khí, thần trong mỗi cơ thể là mấu chốt chủ yếu để duy trì sự sống. Cái mạng con người bắt đầu từ tinh, sống được là nhờ khí, mà chủ sinh mạng lại là thần. Để cho pháp luân thường chuyển thì khí sinh tinh, tinh dưỡng khí, khí dưỡng thần, rồi thần lại hoá khí. Tam bửu hổ tương lẫn nhau. Tinh là cơ sở của thần, khí từ tinh hoá ra. Thần là mặt biểu hiện của khí.
Sự thăng trầm của tinh , khí, thần quan hệ đến mạnh yếu của thân thể, sự mất còn của sự sống. Vì thế cổ nhân mới gọi tinh khí thần là tam bửu (ba món báu ), tức là nguồn gốc sinh mạng của con người. Các nhà đaọ học coi thần là Thái cực nơi cơ thể con người . Thần chủ đaọ viêïc phối hợp khí hóa âm dương mà ta thường gọi là thần khí, thần sắc. Nên thần mất tạng tuyệt, vì các tạng có nhiệm vụ : can tàng hồn , tâm tàng thần, thận tàng tinh, phế tàng phách và tỳ tàng trí ý. Như thế , thần luân chuyển họat động , biến hóa vô cùng , không có chúng sanh nào mà không có thần ngự trị.
MỤC ĐÍCH LUYỆN KỶ TU CHƠN
Luyện kỷ là tự luyện mình ( kỷ là tự mình ) lập cái tâm cho dứt sự thương yêu (diệt dục ), trìu mến , và mọi quyến rũ của thế gian (trường trai ) là tập làm chủ bản thân mình . Tu đơn , tu chơn , thiền định, hay luyện kỷ là một trong các cách nói khác nhau . Hườn hư là an tịnh cái tâm , luyện cho khí hậu thiên tiếp vơí khí tiên thiên. Hễ hườn hư là đạt đạo.Ngoài việc nâng cao chính khí để cơ thể nhẹ nhàng thuần dương đắc quả, việc luyện tinh khí thần là tập cho con người tính điềm đạm ,vui tươi, lòng nhân ái, có những suy nghĩ tốt , bỏ tư tưởng xấu xa, tăng cường hoạt động nội tạng mà còn sửa mình , trừ khử các bịnh và diệt thất tình , lục dục nữa.
Vì giận thì hại can (can thuộc mộc), mừng quá hại tâm (tâm thuộc hoả) , lo nghĩ hại tỳ (tỳ thuộc thổ) buồn quá hại phế (phế thuộc kim) , sợ hãi hại thận (thận thuộc thủy).
Thế nên bỏ giận dữ để nuôi dưỡng tinh, ít lo nghĩ để nuôi dưỡng thần, bớt nói để nuôi dưỡng khí, ngăn lòng ham muốn để nuôi dưỡng tâm.
Muốn nuôi dưỡng tâm phải nuôi dưỡng thần trước.
Muốn nuôi dưỡng thần phải nuôi dưỡng khí trước.
Muốn nuôi dưỡng khí phải nuôi dưỡng tinh trước.
Muốn nuôi dưỡng tinh phải nuôi duỡng chí trước.
Muốn nuôi dưỡng chí phải nuôi dưỡng thần trước.
Việc luyện đaọ chỉ có một mục đích, nhưng mỗi thời kỳ có tên khác nhau. Phật Giáo chú trọng “Hư vô tịch diệt” nên dùng phép thiền định mà giữ lòng không cho xao động.
Đạo Tiên chú trọng “ thanh tịnh vô vi” để tùng thiên lý, quyết không để cái tâm lưu luyến hồng trần , tức lánh trần.
Đạo Nho chú “ tồn tâm dưỡng tánh”, chỉ tĩnh toạ để tạo cái tính tiết độ cao siêu của bậc quân tử.
Đại Đạo thì chú trọng luyện “tam bửu, ngũ hành” mỗi ngày công phu bốn lượt và tịnh luyện một lần để nuôi dưỡng linh hồn, vì đó là mục đích trọng yếu của tu thân.
Luyện tinh khí thần, chủ yếu là luyện khí. Khí vào buồng phổi rồi luân lưu khắp châu thân để nuôi dưỡng cơ thể . Vậy luyện khí tức là luyện thở.
Con người có thể nhịn ăn 50 ngày, nhịn uống 5 ngày, nhưng chỉ nhịn thở vài phút thì sự sống không còn.
Khi còn bào thai trong bụng mẹ thì bà mẹ đã thở cho thai nhi .Khi sanh ra, cuống rún bị cắt rời tách khỏi nguồn thở của mẹ. Thán khí trong máu trẻ sơ sinh tăng cao khiến nó phải khóc giúp cho hai lá phổi bung ra.
Thế là sự hô hấp của đứa bé bắt đầu thở cho đến cuối cuộc đời của nó. Như vậy sợi nhau thai thay thế bởi sợi sinh khí đem sự sống của khí trời vào cho con người . Sợi khí đó là hơi thở. Hơi thở là sự sống, mà sống là phải thở. Nhưng thở cách nào cho sự sống khỏe mạnh và sống lâu dài, đó là cả một nghệ thuật nên phải luyện khí vừa để nuôi cơ thể, vừa để dưỡng thần chí.
LUYỆN KHÍ
Muốn tham thiền nhập định, trước phải luyện khí. Thế nên luyện khí rất quan trọng. Đức Chí Tôn dạy:
“ Bởi lẽ luyện khí chưa thành thuộc mà vào tham thiền, dinh khí và vệ khí phản khắc nhau (như trình bày ở trước) thì tẩu hỏa nhập ma, do người tu luyện không biết thở cho đúng cách.
Muốn tịnh tâm (an tâm) , ta phải thở bằng bụng: phình bụng là hít vào, thót bụng là thở ra, thở như vậy để trái tim được thong thả.
TÍNH CHẤT CỦA LUYỆN THỞ
1-Thở sâu và thong thả:
Khi thở ra, khí dơ trong các phế nang được thải ra hết. Khi hít vào, khí trong lành phải đi qua mũi đủ thời gian điều hòa nhiệt độ của không khí và đủ thời gian khi đi vào tận phế nang sâu nhất. Chính vì thế mà ta phải thở sâu và thong thả mới bảo đảm sự trao đổi khí bên trong cơ thể được trọn vẹn.
2-Thở êm nhẹ:
Biểu hiện sự thoải mái trong tâm hồn, hơi thở ra hoặc hít vào không có tiếng động, người ngồi bên cạnh không nghe được hơi thở của ta. Hãy đặt một cái lông trước lỗ mũi, nếu hơi thở lay động cái lông, tức hơi thở chưa êm nhẹ.
3- Thở đều nhịp:
Vì các cơ quan trong thân thể đều tuân theo một nhịp điệu nhất định để giữ thế cân bằng, ổn định sinh lý và phụ thuộc vào nhịp thở và nhịp tim. Hai loại nhịp nầy quan hệ mật thiết với nhau. Do đó thay đổi nhịp thở cơ thể ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý của tim, tốt hay xấu tùy theo nhịp thở mau hay chậm.
Phải giữ đều nhịp thở từ đầu đến cuối lúc luyện khí, 8 lần trong một phút là tốt.
THỞ BẰNG MŨI
Thở ra và hít vào đều bằng mũi , vì mũi là bộ máy điều hòa không khí của thân người không khí hít vào được những nếp gắp trong hốc mũi hấp nóng , cản bụi, tạo đủ điều kiện đề vào phổi.
Nếu hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng thì mạch nhâm mạch đốc bị rời ra và độ nóng không khí dần dần mất nhiệt nên sẽ bị lạnh, gây ra sổ mũi hay sưng phổi. Còn thở ra bằng mũi thì nhiệt độ được bảo toàn giúp cho mũi điều hoà được không khí hít vào .Mũi còn có vai trò điều tiết lưu lượng không khí hít vào và thở ra. Nếu thở bằng miệng thường làm thay đổi tỉ lệ đó và làm mất cân bằng hoạt động hô hấp.
Thở bằng miệng chỉ nên dùng trong trường hợp khẩn cấp do cơ thể đòi hỏi mà thôi.
Thở bằng mũi còn có lợi là vì các đầu dây thần kinh khứu giác tập trung bên trong đó, giúp ta phân biệt được mùi hương để khám phá mọi sự thay đổi ô nhiểm của không khí mà cơ thể có phản ứng tự vệ tức thời. Khi tập thở thì thả lỏng các cơ bắp không tham gia vào động tác thở, như tay chân chẳng hạn. Hai mắt phải lim dim hoặc nhắm hẳn lại để dễ dàng tập trung ý tưởng vào Hạ khí hải (tức Đơn điền). Nhờ đó ta tưởng tượng khí lọt vào mũi nhẹ nhàng làm bụng phình lên, xẹp xuống. Tới một lúc, ta cảm hấy hơi thở dương khí lôi cuốn mình đi…và ta sắp bước sang trạng thái khoan khoái kỳ lạ phiêu diêu.
NHỮNG ĐIỂM CƠ BẢN VỀ THỞ BỤNG
Khi tập thở phải lưu ý những điểm sau đây: 1- Với tư thế nằm, ngồi gì cũng được, thường là ngồi xếp hoa sen, để hai bàn tay ngữa phía dưới Đơn điền. Hai vai không lay động , vì nếu nhúc nhích sẽ làm cản trở động tác hô hấp. 2- Luôn luôn thể hiện trong tâm hình ảnh : phình bụng hít vào, xẹp bụng thở ra cho hết thán khí Thở sâu, thong thả, nhẹ nhàng và đều nhịp.
Tập thở thuần thuộc đến độ nào đó không cần tập nữa mà cơ thể phản xạ thở tự nhiên theo thói quen.
Thầy Mạnh Tử viết rằng: “Thi tập nghĩa sở sanh, phi nghĩa tập nhi thủ chi”. Nghĩa là làm theo đạo pháp thì khí sanh mà không dùng sức để cưỡng chế. Thầy cũng nói: “Tất hữu sự yên, nhi vật chánh. Tâm vật động. Vật tư trưởng dả”. Aét có sự đến (khí sanh) nhưng đừng dùng sức mạnh ép khí.Tâm không động mà chẳng lưu ý trợ trưởng nữa. Thầy cho phép luyện thở như cách trồng lúa, muốn lúa mau lên thì phải năng chăm bón chớ chẳng phải lấy tay nhóm gốc, chẳng khác gì thúc bách khí chóng đến mà không biết pháp nuôi dưỡng khí thì không bao giờ đạt hiệu quả.
TỌA TỊNH
Ngay từ buổi đầu khai Đạo, Đức Chí Tôn đã dạy các môn đệ cần phải tịnh luyện:
Thành tâm niệm Phật
Tịnh , tinh , tịnh, tỉnh, tỉnh.
Tịnh là vô nhứt vật,
Thành tâm hành đạo (pháp)
(Đàn đêm 14-1-1926) Muốn tọa tịnh, trước phải nhập định. Nhập định là làm cho tâm thần yên ổn, không nghĩ suy điều chi, chỉ nuôi dưỡng duy nhất tư tưởng thánh thiện trọn lành. Giờ nhập định tốt nhất là sau lễ thời mẹo, dậu . Các tịnh viên sắp đàn, ngồi hoa sen như ngồi cúng ở Đền Thánh , lấy dấu Thầy xong ,bắt đầu niệm các bài kinh, nghĩa là đọc thầm bằng tư tưởng mà không phát ra thành tiếng để dứt tam nghiệp: khẩu , ý (tâm) thân mà diệt tam độc: tham , sân ,si.
Tịnh khẩu chú
Lời ăn nói là nơi lỗ miệng
Tiếng luận bàn liệu biện đề phòng.
Giữ cho miệng đặng sạch trong,
Gìn tâm minh chánh rèn lòng niệm kinh
(1 lạy )
Tịnh tâm chú
Lòng người đặng tánh linh hơn vật
Biết kỉnh thành dè dặt khôn lanh
Khá tua lánh dữ làm lành
Những điều nghiệt ác hóa thành khói tan .
(1 lạy)
Tịnh thần chú
Ở trần thế bụi nhơ thân vấy
Khí trược xin bốc tẩy thành hơi
Đạo tâm giữ sạch chẳng dời
Lòng thành kỉnh lạy Phâït Trời chứng tri.
(1 lạy)
Ngay sau đó là tâm thiện niệm. Thầy đã dạy : “Dầu không Thiên phong hễ gắng tâm thiện niệm thì ngôi vị cũng đạt hồi đặng “ (Đàn đêm 17- 9 1927 ), rồi tiến vào tọa thiền.Muốn tọa thiền phải tập trung ý tưởng cao, xóa bỏ tư tưởng thiện ác lởn vởn trong tâm. Âm thanh đập vào tai nghe như không nghe. Ánh sáng chói vọi vào mắt thấy mà như không thấy, tạo cái tâm phá chap.
Muốn tĩnh tọa phải là một cái bồ đoàn, hình tròn đường kính 2 tấc, cao 1 tấc, dồn gòn. Bồ đoàn để giữa cái niệm hình vuông cạnh 6 tấc. Tu sĩ ngồi lên bồ đoàn xếp hoa sen như ngồi cúng ở Tòa Thánh.
Xương cùn chiếu đúng giữa bồ đoàn, nghiêng qua, nghiêng lại cho chính rồi chỉnh thân cho ngay thẳng, hai ống chân kéo sát vào thân, sau đó nới lỏng dây lưng, cổ áo cho thoải mái. Lấy mu bàn tay trái để lên lòng bàn tay phải (nữ thì làm ngược lại ). Hai ngón tay cái tiếp xúc với nhau, cạnh ngón út bàn tay đặt nhẹ vào dưới đơn điền..lưng thẳng , đầu hơi cuối xuống, mắt nhắm ¾. Gương mặt bình thản và bắt đầu thở bằng bụng (thai tức) . Nhớ ngậm miệng lại , răng khít răng, lưỡi kề răng làm như vậy giúp cho mạch nhâm và mạch đốc giao nhau. Nước miếng sẽ chảy ra gọi là huỳnh tương cam lộ, hãy nuốt từng ngụm một, gọi là ngọc dịch hườn đơn , nước miếng đó chính là tinh, tinh hóa khí, khí hóa thần.Nhờ đó điển trong người không thất thoát (trở lại trên) và luôn được pháp luân thường chuyển.
Nếu nằm ngữa thì buông lỏng cơ thể, thở tự nhiên , nhắm mắt ngậm miệng. Đặt huyệt lao cung của hai lòng bàn tay vào ngay huyệt Đơn điền.
Nếu nằm nghiêng bên trái thì đặt huyệt lao cung tay trái vào dái tai , lóng ngón tay út đặt lên huyệt Thái dương , chân trái duỗi thẳng, chân mặt hơi co, Huyệt Lao cung tay phải đặt trên huyệt hoàn khiêu . Nằm nghiêng bên phải thì ngược lại.
Cứ thở đều đều cho huyền khí bên ngoài hòa lẫn với nguyên khí bên trong người thành chơn nhứt khí để nuôi cơ thể. Dẹp bỏ hết mọi ước muốn ở cõi trần gian , giữ cái tâm thanh tịnh, một ngày nào đó mà takhông thể biết trước được , tự nhiên thần khí của ta sáng bừng lên cảm thấy chân lý. Đó là lúc điểm sáng linh quang được bật cháy tỏa quanh thân ta, ấn chứng ngộ đạo . (1)
Lục Tổ dạy: “Một khi đã ngộ, thì chỗ nào cũng vậy . Muốn hồi hướng về Phật phải theo tự tánh mà hành chớ cầu ở ngoài thân. Tâm giác ngộ sáng suốt là Phật, Tâm ấy phóng đại quang minh phá hết lục dục chiếu vào tự tánh làm cho tam độc dứt liền , các tội đều tiêu diệt, trong ngoài sáng tỏ chẳng khác gì cõi Tây phương”.
Tịnh từ 1 đến 2 giờ , muốn xả tịnh thì hai bàn tay chà sát vào nhau cho nóng gọi là “âm dương ký tế” rồi chà từ mặt lên trán ra sau ót , đoạn vuốt hai bên tai , hai cánh tay, hai ống chân. Sau cùng, hai bàn chân tự chà vào nhau, rồi đứng lên đi lại bình thường.
ĐỨC THANH SƠN ĐẠO SĨ
Giáng cơ năm Giáp Dần -----------------------------------------------------
Ngộ có ba bậc: khải ngộ và chứng ngộ
Khải ngộ phải nhờ thiện trí thức chỉ dẫn phép tu niệm đọc kinh đọc sách, gọi là trí hưũ sư.
Giải ngộ là nhân nghe một câu kinh hay lời giảng đạo Thánh hiền, liền thấy được bản tánh nhanh như chớp (sát na).
Chứng ngộ là công phu tịnh luyện viên mãn , an trụ tánh giác trọn vẹn do tịnh luyện mà phát ra, không nhờ sự giúp đỡ của ai , gọi là trí vô sư. Được chứng ngộ mới đạt bất sanh bất diệt tức giải thoát sinh tử mà hằng sống.
TINH THẦN THÁNH THIỆN
Nếu tu luyện đúng mức ta trở thành Thánh thiện , không những vậy vô hình trung, nhờ luyện khí cơ thể được khoẻ mạnh. Phương ngôn có câu : “Tinh thần Thánh thiện trong xác thân khang kiện” ( Une Aâme sainte dans un corps sain). Nói cách khác, xác thân khỏe mạnh mới có tinh thần Thánh Thiện.
Thầy cũng dạy:’’ Tham thiền nhập định là để tâm thần yên ổn hầu có sửa mình màtrừ khử các bịnh và diệt thất tình lục dục”.
Thật vậy luyện tam bưủ ngũ hành theo cổ nhân là để điều hòa mọi hoạt động sinh lý nội tạng và thần kinh . Trong sinh hoạt hằng ngày, cơ thể bị thay đổi luôn, hơi thở cũng phải thay đổi cho thích ứng. Ngồi bàn làm việc, chân tay ít hoạt động , mệt mõi; thay vì hút thuốc lá, hãy thở sâu 5 lần sẽ thấy khoan khoái . Khi lao động nặng nhọc, máu chứa đầy urê và acid lactic , hãy cứ thở sâu như trên đây sẽ thấy kết quả tốt.
Khi giận dữ, cáu gắt, nhịp tim đập dồn dập, hơi thở rối lên. Để nén cơn giận, ta hít vào thật sâu, đưa cơ hoành nén hơi giữ khí lại rồi thả ra từ từ. Làm như thế 5 lần cơn giận sẽ hết.
Đêm nằm không ngũ được, ngồi dậy xếp hai chân cho chặt làm động mạch đùi bị ép lại và thở như trên, rồi nằm xuống. Máu động mạch dồn trở lại hai bàn chân , đồng thời lôi cả máu từ não xuống, cơ thể chuyển sang trạng thái thiếp ngủ .
Thở bằng bụng có thể trị được nhiều chứng bệnh . Nhờ thở bằng cơ hoành, coi như trái tim thứ hai (deuxième coeur- veineux ) giúp người bị suy tim thoải mái vì tim ít gắng sức. Khi lên cơn hen suyển, ngồi thẳng thở ra một hơi dài sâu và tập trung ý xuống vùng dưới bụng đang thót vào như để đẩy khí ra thật hết rồi tự động hít nhẹ nhàng vào. Cố tập thời gian dài sẽ cắt đứt được cơn hen.
Khi thở bằng bụng, cơ hoành coi như cây thụt xoa bóp nội tạng như dạ dày, gan , ruột ; nên có tác dụng trị bón và loét dạ dày; đặc biệt kích thích tuần hoàn tĩnh mạch gan, làm tiêu tan xung huyết để ổn định tiêu hóa và hạ bịnh cao huyết áp.
Tóm lại , luyện khí thở bằng bụng tăng cường sức đề kháng và nâng cao sức khỏe cho cơ thể, tạo niềm tin mình tự chửa bịnh cho mình . Thế mới hay luyện tam bưủ đồng nghĩa với luyện tập dưỡng sinh cho thân khoẻ mạnh . Bởi lẽ, tinh thần Thánh Thiện chỉ có trong xác thân khang kiện.
DƯỠNG SINH THI
Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ đã dạy:
Tích khí tồn tinh , cánh dưõng thần
Thiểu tư quả dục , vật lao thân
Thực bôi bán bão vô kiêm vị
Ẩm chỉ tam phân mạc quá tầng
Mỗi bá hí ngôn , đa thú tiếu
Thường hàm lạc ý , mạc sinh sân
Nhiệt viêm biến trá, đô hưu vấn
Nhiệm ngã tiêu giao quá bách xuân
Dịch nghĩa:
Giữ khí , gìn tinh , lại dưỡng thần
Ít lo ít muốn , ít lao thân
Cơm nên vừa bụng đừng nhiều vị
Nước chỉ vài phân, chớ quá tầng
Môi cứ câu đùa vui miệng mãi
Dạ thường nghĩ tốt bụng lâng lâng
Nóng hờn , biến trá, thôi đừng hỏi
Để NGÃ tiêu giao đến tuổi trăm.
Đại ý bài thơ:
Luyện tinh khí thần mục đích là để trường sinh , có sức khỏe để yêu đời , yêu người, không giận hờn, gian trá, ham muốn, mưu toan. Cứu cánh của người tu là thanh đạm ít món ăn vừa đủ no, uống từng ngụm nhỏ vì nước nhiều làm mệt tim.
Bởi lẽ bệnh tật phát sinh do ăn uống quá độ, tích tụ nhiều năm làm cơ thể mất quân bình âm dương mà sinh nhiều chất độc. Chỉ ăn khi đói , chỉ uống khi khát. Aên những chất thuần dương, như ngũ cốc xay lức và hoa quả. Tuyệt đối không ăn các thức có chất hóa học và các loại cà, măng, nấm… Được như vậy sống sẽ đến trăm tuổi già (quá bách xuân).
http://antruong.free.fr/nenthonghieu3chu.html
...
TAM HUÊ TỤ ÐẢNH, NGŨ KHÍ TRIỀU NGƯƠN LUẬN
Tam huê ấy là Tinh, Khí, Thần. Tinh, khí, thần ban đêm thì trú nơi thận. Còn ban ngày thì ở 3 nơi khác nhau. Ba chỗ ấy là: Tinh ở nơi lổ tai, Khí ở nơi miệng, Thần tại con mắt. Miệng nói tai nghe, con mắt thấy điều này điều kia, mà làm cho lần lần hao mòn tinh, khí, thần.Kẻ tu hành phải lấy chơn ý thâu tinh, khí, thần.
Ðem cho nó vào trong kim đảnh, đó là tam huê tụ đảnh: Đạo.
Ngũ khí triều ngươn là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ tức là ngũ hành. Ðêm ngày mỗi món đều ở yên một chỗ, nghĩa là phần của hành nào thì hành này phải ở đó, chẳng được đi bậy qua chỗ khác. Ban ngày thì kim khí ở nơi con mắt, mộc khí ở nơi lổ tai, thủy khí ở tại lổ miệng, hỏa khí ở tại lổ mũi, thổ khí nơi ngoài da. Còn ban đêm thì kim khí ở tại phổi, mộc khí trú tại gan, thủy khí trú tại thận, hỏa khí trú tại tim, thổ khí trú tại bao tử. Mỗi ngày ngũ khí đều có hao kém bởi vì ngũ tạng là tâm, cang, tỳ, phế, thận nó hay chuyển động.
Như may mà gặp được minh sư truyền chỉ phép hồi quan phản chiếu, đặng làm cho ngũ hành triều tựu (chầu nhóm) nơi huyền-quan-khiếu. Ðó là ngũ khí triều ngươn.
...
LÃO TỔ GIẢNG VỀ TAM HOA TỤ ĐẢNH & NGŨ KHÍ TRIỀU NGUYÊN
TAM HOA TỤ ĐẢNH
1) Nhân Hoa: Luyện Tinh hóa Khí
Người vốn do sự hòa hợp của Tinh Huyết mà sanh sản cho nên Tinh là chuẩn tử của luân hồi. Kẻ tu tâm phải lìa hạ tiêu, tức là đường dẫn khí nằm trên bàng quang, chủ về phân biệt thanh trược (chỉ ra mà không vào). Có diệt trừ dâm dục, có đoạn được dâm căn thì Tinh mới đầy và Hoa Chì mới nở.
2) Địa Hoa: Luyện Khí hóa Thần
Người ta sống được là nhờ Khí, kẻ tu tâm phải lìa được trung tiêu, tức mạch dẫn khí nằm trong lằn trong bao tử. Không kinh sợ, không oán thù, giận hờn, ắt là Khí hòa thuận bình yên, đạo thông suốt, trung khí đủ thì không nghĩ đến ăn Hoa Bạc mới nở.
3) Thiên Hoa: Luyện Thần hoàn hư
Tinh Khí tuy đầy đủ song không có Thần ắt thân thể không có ánh sáng thì kể như chết, cho nên Thần là chủ tể. Kẻ tu tâm phải lìa thượng tiêu tức mạch dẫn khí nằm phía trên bao tử mới không chấp trước . Thần đầy tức không nghĩ tới ngủ, hồn trong lặng tỉnh táo ắt thoát xác trở về hư vô, vào cảnh giới hư không và Hoa Vàng mới nở.
Bởi vậy, người tu phải giữ trọn “Tinh, Khí, Thần” là ba món báu để luyện hầu đạt Đạo quả.
NGŨ KHÍ TRIỀU NGUƠN
Là 5 khí của Ngũ Hành trở về nguồn cội. Vì mong cứu độ chúng sanh Ta nay đặc biệt chỉ phép Ngũ Khí Triều Nguơn như sau:
Mọi người đều sanh ra từ Ngũ Hành khí nên sách Thánh cũng có câu:
“Dầu cho Tạo Hóa mấy lò,
Hóa Công mấy thợ, một pho Ngũ Hành.”
Song con người vì chìm đắm trong cõi phàm trần, Tinh Thần hao phí quá nhiều khiến Ngũ Khí chẳng thể nào triều nguyên nổi, cuối cùng không trở về nguồn cội. Đem cái Khí nguồn gốc ném vào ngũ thể khiến cho tan loãng, Tiên thể thuần chơn biến thành thân xác ô tức, linh khí thất tán, vô phương trở về nguồn cội ban đầu.
Ngũ Hành gồm có:
Hành Mộc: ứng về phương Đông, với ngũ giới cấm là giới sát sanh, với ngũ luân là Đức Nhơn, với ngũ tạng là buồng Gan nơi chứa Hồn.
Hành Kim: tương ứng với phương Tây, với ngũ giới cấm là giới du đạo, với ngũ luân là Đức Nghĩa, trong thân người là cái Phổi nơi chứa Phách.
Hành Thủy: ứng với phương Bắc, với ngũ giới cấm là tửu nhục, với ngũ luân là Đức Trí, trong người là trái Cật nơi chứa Tinh.
Hành Hỏa: ứng về phương Nam, với ngũ giới cấm là tà dâm, với ngũ luân là Đức Lễ, trong thân người là Tim nơi chứa Thần.
Hành Thổ: ở giữa bốn Hành ứng với Trung Ương, với ngũ giới cấm là giới vọng ngữ, với ngũ luân là Đức Tín, trong thân người là Lá Lách nơi chứa Ý.
Bốn Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa phải do nơi Đất (Thổ) mới lập thành.
Kim sanh từ Thổ, Mộc nhờ Thổ mà lớn, Thủy trong Đất mà ra, Hỏa dựa Thổ mà sáng. Vạn vật phải nhờ Thổ mới nuôi dưỡng, mới có thể sanh trưởng thành tựu. Càn là Trời là Dương, cũng như Khôn là Đất là Âm. Người xưa nói: “Trời sanh Đất nuôi”, công tác chính yếu trong sự nuôi dưỡng loài người và vạn vật là do Đất.
Trong ngũ luân gồm có “Nhơn, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” mà Đức Tín thuộc Thổ. Nay một chữ Tín, Ta thấy nếu người ta không có Đức Tín ắt không đứng vững. Cho nên phải biết Tín là chủ của ngũ thường, mà Thổ giữ đất Tín nhiều nhất, trồng dưa đặng dưa, trồng đậu được đậu, tơ tóc chẳng sai, gieo giống gì mọc thứ nấy, tuyệt đối không dối trá thất Tín.
Người tu hành không nóng nảy, căm thù, hờn giận, ắt là Hồn định can khí trong sạch tốt đẹp là Thanh Đế ở phương Đông thì Mộc khí triều nguơn.
Không buồn rầu ắt Phách định là Bạch Đế ở phương Tây thì Kim khí đã triều nguơn.
Không còn kinh khủng sợ sệt ắt Tinh định là Hắc Đế ở phương Bắc thì Thủy đã triều nguơn.
Không còn buồn vui thái quá, ắt Thần định là Xích Đế ở phương Nam vì Hỏa đã triều nguơn.
Không lo tính theo tham dục ắt Ý định là trung ương Hoàng Đế vì Thổ đã triều nguơn.
Trên đây là cái lý “TAM HOA TỤ ĐẢNH và NGŨ KHÍ TRIỀU NGUƠN”. Nói cách khác, người luyện Đạo thì NGŨ HÀNH trở về NGŨ LÃO, TAM HOA hóa TAM THANH, quy hoàn bản thể vô cực đạt cứu cánh viên thông sống trong thời TAM HOÀNG NGŨ ĐẾ! Tu quả là không khó, giữ trọn TINH KHÍ THẦN, tồn NHƠN NGHĨA LỄ TRÍ TÍN. Không đau buồn, vui sướng, dâm dục, giận hờn, ắt bản tính tự tại thành tựu được quả vị Kim-Tiên, tự nhiên siêu thoát ba cõi ra khỏi Ngũ Hành trần gian không có gì trói buộc được nữa!
...
http://antruong.free.fr/DaoPhapBigiai17.html
HUỆ MINH CHƠN TIÊN
HUỆ đắc huyền-vi xuất đạo mầu,MINH thừa máy nhiệm chuyển cao sâu,CHƠN truyền dạy thế hồi bổn-giáo,TIÊN tục hồi nguyên chuyển địa-cầu.
Đất có tam bửu là: thủy, hỏa, phong; ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
Người có tam-bửu là: tinh, khí, thần. Ngũ tạng là: tâm, cang, tỳ, phế, thận.
Trời có ba cõi, người có ba hồn; tam-bửu của Trời, đất, người liên-đới:
Ngũ khí, ngũ hành, ngũ tạng liên-đới:
Tam ngũ của Trời, đất, người liên-quan với nhau, nếu muốn thành Tiên, tác Phật, thì phải học pháp tối-thượng chơn-truyền, luyện qui tam ngũ thì thấy thành chẳng sai.
......
http://antruong.free.fr/DaoPhapBigiai17.html
HUỆ MINH CHƠN TIÊN
HUỆ đắc huyền-vi xuất đạo mầu,MINH thừa máy nhiệm chuyển cao sâu,CHƠN truyền dạy thế hồi bổn-giáo,TIÊN tục hồi nguyên chuyển địa-cầu.
Bần-đạo chào chư phận-sự, nghe Bần-đạo giải về vũ trụ quan cùng nhơn thân liên-đới cùng nhau.
Bầu vũ-trụ bao la khắp cùng càn-khôn thế-giới, chia ra ba cõi là Thượng-giới, Trung-giới và Hạ-giới.
Chỗ tuyệt-đối hư-vô, Phật gọi là Tối Đại Niết-Bàn, Đạo là Bạch-Ngọc-Kinh, Thích gọi là Thiêng-liêng, Nho gọi là Nhị-Châu, cũng đồng một chỗ tuyệt-đối.
Hư-vô kia còn có tam thiên, đại thiên thế-giới, mênh-mông vô cùng vô-tận, từ mặt địa-cầu sắp lên trung- giới do quả đất các tinh-tú ngày đêm châu-lưu xây chuyển, nhựt nguyệt vận hành, âm dương phân định, mới có ngày đêm sáng tối; sáng từ Mẹo đến Thân, tối từ Dậu đến Dần. Từ Tý tới Tỵ là dương, Ngọ đến Hợi là âm; âm dương xây chuyển, nhựt nguyệt vận chuyển mới có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc.
Ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
Bát quái là: Càn, Chấn, Khảm, Cấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.
Trời có tam-bửu là: nhựt, nguyệt, tinh;
Ngũ khí là đạm khí, dưỡng khí, khoáng khí, hạo nhiên chi khí, huyền khí.
Đất có tam bửu là: thủy, hỏa, phong; ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
Người có tam-bửu là: tinh, khí, thần. Ngũ tạng là: tâm, cang, tỳ, phế, thận.
Trời có ba cõi, người có ba hồn; tam-bửu của Trời, đất, người liên-đới:
1) của Trời: nhựt là mặt trời,
2) của đất: hỏa là lửa,
3) của người là thần, là linh hồn,
liên-quan tại cõi thượng-giới; của Trời là mặt trăng; của đất là gió; khí là giác-hồn,
liên-quan tại cõi trung-giới; của Trời: tinh là sao; của đất; thủy là nước; của người: tinh là tinh ba là vật-chất, là mê-hồn, liên-quan tại hạ giới.
Ngũ khí, ngũ hành, ngũ tạng liên-đới:
- Của Trời: khinh-khí; của đất là mộc; của người là cang, liên-đới
- Của Trời là dưỡng khí; của đất là thổ; của người là bao-tử, liên-đới
- Của Trời là khoáng-khí; của đất là kim; của người là phổi, liên-đới.
- Của Trời là huyền-khí; của đất là thủy; của người là thận thủy (trái cật) liên-đới.
Tam ngũ của Trời, đất, người liên-quan với nhau, nếu muốn thành Tiên, tác Phật, thì phải học pháp tối-thượng chơn-truyền, luyện qui tam ngũ thì thấy thành chẳng sai.
Sơ nhứt chuyển luyện cho tinh hóa khí, điều hòa thân tâm an lặng.
Sơ nhị chuyển bế ngũ quan, điều thần hiệp khí.
Sơ tam chuyển khử trược lưu thanh, hậu thiên ngưng giáng, thần khí giao thông, thân-thể nhẹ-nhàng linh-hồn minh-huệ, cách vật trí tri, mỗi sự vật dưới thế gian nầy đều hiểu biết, ấy là bá nhựt trúc cơ, đắc thọ tam-kỳ đến thập ngoạt hoài thai, hoàn-thành nhứt bộ, xuất hiện dương thần, triều ngươn ngũ khí thì chứng cảnh không.
Sang tứ chuyển mạch máu lưu thông điều-hòa thái tức.
Ngũ chuyển nhũ bộ tam niên, hườn hư vô cực.
Lục chuyển thân tâm đều bất động, vô thân, vô thể, vô tâm, vô cấu, mỗi việc điều không, đắc thành nhị bộ, xuất thông giáo-lý, mở khiếu nhãn-quan, các hiện-tượng trên cõi siêu-hình nơi trung-giái đều thấy hết, ấy là chứng thiên-nhãn, thiên-nhĩ-thông.
Sang thất chuyển hạo-nhiên thường trụ, tam hoa tụ đảnh nê-hườn, cổi rồi bảy thể, xuất-hình thân ngoại hữu thân, nhưng phải nuôi thần nơi Côn-lôn-đảnh.
Sang bát-chuyển, đắc ngũ thông túc mạng, cửu niên diện bích, luyện thần hườn hư.
Qua cửu chuyển luyện hư hườn vô thì đắc lục thông, lậu tận, chứng quả Đại-Giác Kim-Tiên, đơn thơ chiếu triệu, về nơi Bạch-Ngọc chứng quả Bồ-đề, cùng chư Phật đồng giai, bất sanh bất diệt nơi Tối-đại Niết-Bàn, pháp hiệp tam bửu, ngũ hành, ngũ tạng, luyện cho ba nhà hiệp một kết thành anh-nhi xá-lợi.
Bởi xác-thân con người là tứ đại giả hiệp, mộng huyễn như bào ảnh, lúc không hồi có, nào có lâu dài bền bĩ, linh-hồn mượn nó một thời-gian trên cõi tạm để trả rồi nghiệt-quả, thì nó phải tan ra thể chất, còn linh-hồn trở lại cảnh hư-vô. Nếu muốn cho đặng trường-sanh bất-diệt, thì cần lo tu luyện cho đắc kim-thân bất hoại, vĩnh-kiếp trường tồn, về nơi Đào-nguyên Tử-phủ.
Nay nhằm buổi Hạ-nguơn, Tam-kỳ mạt hậu, Đại-đạo phục hưng, nên Bần-đạo lộ gần hết chơn-truyền, để cho nhơn-sanh ai là người hữu căn, mau tỉnh ngộ, lo tu tâm-pháp bí-truyền, cho đặng Thánh-thai, Phật-tử chẳng uổng kiếp sanh tiền cõi tạm.
THIĐào-nguyên là chỗ hội linh-căn,
Học đạo thì tua rán nắm phăng,
Trưa sớm chiều khuya không nản chí,
Công phu đắc ngộ đặng phi thăng.
THI BÀI Trong thân thể khóa chìa của đạo,
Người biết tu huờn đáo vị xưa,
Chia ra cửu phẩm tam thừa,
Tùy căn chỉ giáo cho vừa nhơn-sanh.
Khuyên gắng chí thực-hành chơn-đạo,
Luyện chơn thần huờn đáo hư-vô,
Do nơi thái cực Hà-đồ,
Luyện tinh hóa khí điểm tô Nguơn-thần.
Sửa thân thể ân-cần hôm sớm,
Diệt thất tình trí đởm an-nhiên,
Ngày đêm để dạ kiền-thiền,
Công-phu giồi luyện hạo-nhiên tương-đồng.
Cặp mắt thì lưu-thông võ-trụ,
Phải hồi-quang phản chiếu luôn luôn,
Soi trong thân thể y khuôn,
Đừng ham vật-chất là tuồng bụi nhơ.
Tai để lóng huyền-cơ đạo-chuyển,
Tịnh chơn-thần, huờn biến đạo Cao,
Châu lưu thân thể ra vào,
Khí tinh lên xuống một màu châu thiên.
Vận đại-dược đơn điền nung nấu,
Để tai nghe xông thấu Nê-huờn,
Vận-hành nhựt-nguyệt tam quang,
Hống diên ngưng kết vượt thoàn về nguyên.
Mũi thì ngửi hạo-nhiên chi khí,
Khiếu điều hòa vận khí đem lên,
Đem lên khai xuất Nê-huờn,
Xung thiên mãn địa huờn đơn kết thành.
Lưỡi để nếm mùi thanh cam-thủy,
Nước Cam-lồ huyền-bí Ma-ha,
Chơn răng đượm ngọc điều-hòa,
Khảm ly ký tế, hà-xa xây tròn.
Yểu yểu minh-đài soi mờ-mịt,
Phải điều hòa diện bích cửu niên,
Xuất huyền, nhập tẩn châu-thiên,
Là cơ siêu thoát tiên-thiên phục hồi.
Còn xác thân là ngôi độc nhứt,
Phải bền tâm chịu cực chớ lơi,
Cần tu bốn buổi y thời,
Công-phu cửu chuyển do trời vượt lên.
Người nếu muốn cho nên học đạo,
Phải biết trần quả báo lánh xa,
Gìn tâm hai chữ nhẫn-hòa,
Chơn truyền thọ ký, thoát mà lao-lung.
THI Lao lung là chỗ khám trần duyên,
Nhốt cả quần-sanh khó thoát miền,
Vật chất say mê trên cõi tạm,
Khó mong đắc kiếp lại Đào-nguyên.
&&&Đào-nguyên khuyên-thế bước lần đi,
Học đạo thì tua hiểu trí tri,
Cách vật quan tường cho thấu đáo,
Tâm-thành đắc đạo chiếu quang-huy.
&&& Quang-huy thử thị khiếu huyền-môn,
Thượng đắc chơn-tinh chiếu độc tồn,
Chuyển-vận khí thần qui cơ thể,
Giã-từ phận-sự, lại Côn-lôn...
...
http://nhantu.net/TonGiao/TMKC/N48.htm
48. NGŨ KHÍ TRIỀU NGUYÊN THUYẾT五 氣 朝 元 說
Trong thân người, hai trục Tinh-Thần và Hồn-Phách theo tự nhiên thì không bao giờ đồng nhất đặng. Tinh-Thần không bao giờ gặp nhau (quẻ Hỏa-Thủy vị-tế), bởi lẽ Tinh luôn chảy xuống mà tẩu lậu mất, Thần bị hao tán vì mắt cứ ngó ra ngoài, còn Hồn Phách lại bị xiêu lạc, dật dờ. Vậy nên, người tu hành phải quay về thân tâm mình (là một tiểu Thiên-Địa) mà vận dụng lấy Lạc-Thơ (chữ Vạn nghịch) hay ma phương sao Thổ, luyện cho âm dương hòa, ngũ hành bình. Nghĩa là làm cho mạch nhâm, mạch đốc thông hội, liền lạc, giáp mối thành vòng tròn vô cực (vòng tiểu châu thiên), ngũ hành hóa khí mà hiệp nhất về Trung ương Hoàng cực.
Muốn được như vậy, thì người tu luyện phải dụng công phu định cái tâm, gìn cái ý mà bế ngũ quan. Ngũ quan là: Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân. Ngũ quan lại thuộc về ngũ tạng, ăn với ngũ hành.
Bế thiệt quan thì Can Mộc chẳng đảo xiêu. Người tu không nóng nảy, hờn giận ắt Hồn định, Khí ở gan trong sạch tốt đẹp, là Thanh-Đế ở phương Đông vị Mộc Khí triều ngươn, ngựa xanh quy về Trung ương Hoàng cực.
Bế tỉ quan thì Phế Kim phân chì sắt. Không buồn rầu ắt Phách định, là Bạch-Đế ở phương Tây vị Kim Khí triều ngươn, ngựa trắng quy về Trung ương Hoàng cực.
Bế nhĩ quan thì Thận Thủy mới lưu hành. Không kinh khủng sợ sệt quá ắt Tinh không động, là Hắc-Đế ở phương Bắc vị Thủy Khí triều ngươn, ngựa đen quy về Trung ương Hoàng cực.
Bế nhãn quan thì Tâm Hỏa không bừng cháy. Không mừng vui, xúc động thái quá ắt Thần an định, là Xích-Đế ở phương Nam vị Hỏa Khí triều ngươn, ngựa đỏ quy về Trung ương Hoàng cực.
Bế thân quan thì Tỳ Thổ đặng sanh khí. Không vọng tưởng mơ ước, không tính toán mưu cầu theo tham dục ắt Ý định, là Trung ương Hoàng-Đế vị Thổ Khí triều ngươn.
Bế ngũ quan nghĩa là gìn giữ không để cho tâm ý buông lung phóng túng, chạy bậy ra ngoài theo ngũ giác quan, mà phải quay về nội giới lắng nghe, quan sát, luyện Thần-Khí vận chuyển trong châu thân.
Khi đã bế ngũ quan lại phải giữ gìn lấy tam bửu mà luyện chơn chưởng thành đồ cho Tinh hóa Khí, Khí hóa Thần, Thần hoàn hư. Ba báu quy về kim đảnh, “Tam hoa tụ đảnh” là thành Đạo.
Bịt tai là bảo Tinh. Lỗ tai thuộc Thận, nếu nghe âm thanh bên ngoài, đàn ca hát xướng, lời nói êm ái dịu ngọt kích động lòng ham muốn mà hao Tinh. Nên phải nghe vô trong chẳng nghe ra ngoài. Nếu có nghe thì chỉ nghe những điều lễ nghĩa, đạo đức thiện từ. Nho-giáo có câu “Phi lễ vật thính” nghĩa là chẳng phải lễ chẳng nghe, Đạo-giáo có câu “Thính chi bất văn”, nghĩa là nghe đó mà dường như chẳng nghe, ấy là phép trừ âm thanh bên ngoài.
Bịt tai là tịnh thân nghiệp đặng kiến Quan Âm mà lắng nghe lại lòng mình, dụng Pháp Quy Tức Công luyện Tinh hóa Khí (Quay vào Hoàng-Đế nam mô), lìa xa được “Hạ-tiêu”, tức là đường dẫn khí nằm ở phía trên bàng quang, chủ về phân biệt thanh trược (chỉ ra mà không vô). Có diệt được sự dâm dục, có đoạn được dâm căn thì “Tinh” mới đầy mà “Hoa chì” (Nhân hoa) mới nở.
Ngươn Tinh là vật báu vô giá, được xem là đơn dược trường sanh bất tử, là chất liệu để tạo thành “Nhị Xác Thân”. Nó là nguồn năng lượng giúp cho Thần-trí quang minh sáng suốt, đưa Linh-hồn phi thăng siêu thoát. Nhưng phải biết cách tu luyện thì nó còn, không biết cách thì nó tẩu lậu ra ngoài mà mất đi. Vấn đề này làm đệ tử nhớ lại lời dạy của Đạo-Sư về việc trị thủy của hai cha-con ông Cổn và Hạ-Vũ. Nước Trung-Quốc, vào thời xa xưa, hằng năm, nước dâng lên ngập lụt khiến cho nhơn dân nguy khốn, lầm than, làm hại chết rất nhiều sanh linh. Sau đó, Vua mới sai ông Cổn đi trị thủy mà trừ tai họa, giải ách nạn cho muôn dân bá tánh. Ông Cổn không thông luật âm-dương biến hóa, ngũ hành sanh khắc, nên hậu quả đã không trị thủy được mà còn làm cho ngập úng thêm, khiến vô số sanh chúng phải thiệt mạng. Sau đó, ông Hạ-Vũ là con nối nghiệp cha, là người tinh thông lý số Lạc-Thơ, kinh nghiệm sự thất bại trước và biết được tính chất của Thủy, nên đã khai thông các kênh mạch đưa nước trở về nguồn cội là biển cả, mà trừ đặng tai ách cho nhân dân, cứu vớt được vô số sanh linh. Người tu luyện biết cách khai kinh mở lạc, dẫn nước về nguồn cội là bộ đầu, là huyệt Bách-hội, nơi chư dương sở tụ (Thiên nhất sanh Thủy), thì cứu vớt được vô số chúng sanh. Ấy là Tinh ba trong thân người đã được hóa Khí, là cơ “Tận-Độ” trong bản thể. Đây cũng chính là chơn ý nghĩa của ngày “Hạ ngươn Thủy-Quan giải ách”.
Bịt miệng là để tích Khí. Người xưa có câu “Khẩu khai Thần-Khí tán, thiệt động thị phi sanh”. Ít nói cho khí tụ thì hơi không lậu ra, bớt lời bớt việc là dưỡng đặng chỗ khí. Nếu có nói thì chỉ nói những lời lẽ khiêm cung thiện từ, Đạo-đức, như lời Đức Khổng Phu Tử đã dạy: “Gặp người đáng nói mà không nói thì mất người, gặp người không đáng nói mà nói thì mất lời”, hay Nho-giáo có câu “Không Lễ chớ nói”. Bịt miệng là tịnh khẩu nghiệp đặng nuôi dưỡng lấy Ngươn Khí, là Khí Thái-Bạch Kim-Tinh, là cái Khí Hạo Nhiên châu lưu vận hành bao quát trong thân người. Tâm hồn thanh tịnh, không không, ắt là Khí hòa hoãn bình yên, Đạo thông suốt. Người tu luyện Khí hóa Thần, lìa bỏ “Trung-tiêu”, tức là mạch dẫn khí nằm ở lằng trong bao tử. Bụng của cơ thể người được ví như nghĩa địa chất chứa thịt cá thối tha. Tỳ-vị thuộc Thổ, bỏ thịt cá ăn ngũ cốc để giữ vệ sinh cho bụng được sạch sẽ thanh tịnh, ba tấc trược khí dứt, thanh khí trở về lúc ban đầu. Và đây chính là chơn ý nghĩa của ngày “Trung-ngươn Địa-Quan xá tội”. Trung Khí đầy đủ thì ít nghĩ đến ăn, “Hoa bạc” (Địa hoa) mới nở.
Bịt mắt là tồn Thần. Con mắt là tổ khiếu của Thần, hễ nhìn ngó sắc lâu thì Thần theo sắc mà tán. Nho-giáo có câu “Phi lễ vật thị”, nghĩa là chẳng phải Lễ chẳng ngó, Đạo-giáo có câu “Thị chi bất kiến”, nghĩa là xem đó mà dường như chẳng thấy. Đó là phép “Hồi quan phản chiếu”, tịnh tâm nghiệp đặng kiến Quan-Thánh Đế-Quân. Người tu luyện Thần hoàn hư, lìa bỏ “Thượng-tiêu”, tức là mạch dẫn khí nằm ở trên bao tử mới không chấp trước, Thần đầy ít ngủ. Khử trừ ý niệm tham dục, dẹp bỏ tư tưởng tà dâm, ắt Thần-trí sáng ngời, hồn trong lặng tỉnh táo thoát xác trở về hư vô vào cảnh giới hư không mầu nhiệm, “Hoa vàng” (Thiên hoa) bừng nở.
http://thoicocaodaidaidao.blogspot.com/2012/06/luan-ao.html
...
http://chieuminh.free.fr/CMDPT37.html
Học đạo thì tua rán nắm phăng,
Trưa sớm chiều khuya không nản chí,
Công phu đắc ngộ đặng phi thăng.
THI BÀI Trong thân thể khóa chìa của đạo,
Người biết tu huờn đáo vị xưa,
Chia ra cửu phẩm tam thừa,
Tùy căn chỉ giáo cho vừa nhơn-sanh.
Khuyên gắng chí thực-hành chơn-đạo,
Luyện chơn thần huờn đáo hư-vô,
Do nơi thái cực Hà-đồ,
Luyện tinh hóa khí điểm tô Nguơn-thần.
Sửa thân thể ân-cần hôm sớm,
Diệt thất tình trí đởm an-nhiên,
Ngày đêm để dạ kiền-thiền,
Công-phu giồi luyện hạo-nhiên tương-đồng.
Cặp mắt thì lưu-thông võ-trụ,
Phải hồi-quang phản chiếu luôn luôn,
Soi trong thân thể y khuôn,
Đừng ham vật-chất là tuồng bụi nhơ.
Tai để lóng huyền-cơ đạo-chuyển,
Tịnh chơn-thần, huờn biến đạo Cao,
Châu lưu thân thể ra vào,
Khí tinh lên xuống một màu châu thiên.
Vận đại-dược đơn điền nung nấu,
Để tai nghe xông thấu Nê-huờn,
Vận-hành nhựt-nguyệt tam quang,
Hống diên ngưng kết vượt thoàn về nguyên.
Mũi thì ngửi hạo-nhiên chi khí,
Khiếu điều hòa vận khí đem lên,
Đem lên khai xuất Nê-huờn,
Xung thiên mãn địa huờn đơn kết thành.
Lưỡi để nếm mùi thanh cam-thủy,
Nước Cam-lồ huyền-bí Ma-ha,
Chơn răng đượm ngọc điều-hòa,
Khảm ly ký tế, hà-xa xây tròn.
Yểu yểu minh-đài soi mờ-mịt,
Phải điều hòa diện bích cửu niên,
Xuất huyền, nhập tẩn châu-thiên,
Là cơ siêu thoát tiên-thiên phục hồi.
Còn xác thân là ngôi độc nhứt,
Phải bền tâm chịu cực chớ lơi,
Cần tu bốn buổi y thời,
Công-phu cửu chuyển do trời vượt lên.
Người nếu muốn cho nên học đạo,
Phải biết trần quả báo lánh xa,
Gìn tâm hai chữ nhẫn-hòa,
Chơn truyền thọ ký, thoát mà lao-lung.
THI Lao lung là chỗ khám trần duyên,
Nhốt cả quần-sanh khó thoát miền,
Vật chất say mê trên cõi tạm,
Khó mong đắc kiếp lại Đào-nguyên.
&&&Đào-nguyên khuyên-thế bước lần đi,
Học đạo thì tua hiểu trí tri,
Cách vật quan tường cho thấu đáo,
Tâm-thành đắc đạo chiếu quang-huy.
&&& Quang-huy thử thị khiếu huyền-môn,
Thượng đắc chơn-tinh chiếu độc tồn,
Chuyển-vận khí thần qui cơ thể,
Giã-từ phận-sự, lại Côn-lôn...
...
http://nhantu.net/TonGiao/TMKC/N48.htm
48. NGŨ KHÍ TRIỀU NGUYÊN THUYẾT五 氣 朝 元 說
Một Khí phân ra thành Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi định vị phân thành Ngũ Thường. Ngũ Thường mỗi kẻ giữ một phương. Mỗi phương đều khác khí lại có một người con giữ.
Tên con Thanh Đế là Long Yên, được Giáp Ất Mộc đức tam khí.
Tên con Xích Đế là Đơn Nguyên, được Bính Đinh Hoả đức nhị khí.
Con Bạch Đế là Hạo Hoa, được Canh Tân Kim Đức tứ khí.
Con Hắc Đế là Huyền Minh, được Nhâm Quí Thuỷ Đức Nhất khí.
Con Hoàng đế là Thường Tồn, được Mậu Kỷ Thổ Đức là Ngũ Khí,
Cho nên Kim được Thổ thí Sinh, Mộc được Thổ thì Vượng.
Hoả được Thổ thì ngừng. Thuỷ được Thổ thì đứt.
Chỉ Thánh Nhân mới biết đạo lý Hồi Kỷ, Hoàn Nguyên,
Đó là Túm Năm, Tụm Bốn, hội Ba, Hiệp Hai, và qui Nhất.
Nếu Thân bất động thì Tinh bền, mà Thuỷ triều Nguyên.
Tâm bất động, thì Khí bền, mà Hoả triều Nguyên.
Chân Tính mà tĩnh tịch, thì Hồn tàng mà Mộc triều Nguyên.
Vọng tình mà trừ được thì phách sẽ ẩn phục, mà Kim sẽ triều Nguyên.
Tứ đại an hoà thì Ý định mà Thổ sẽ triều Nguyên.
Đó là Ngũ Khí Triều Nguyên, đều qui tụ tại đỉnh đầu.
Lời bàn của Dịch giả:
Con người muốn qui nguyên phản bản, thì tất cả phải qui hướng về Trời, về lẽ Một.
Ngũ Khí là: Tinh, Thần, Hồn, Phách, Ý. Tất cả phải hợp lại thành một.
Cho nên mới có những chữ:
- Ngũ Khí Triều Nguyên, Toản Thốc Ngũ hành
- Tứ Tổ qui gia,
- Tam gia tương kiến. Tam hoa tụ đỉnh. Tam vật qui Thổ.
- Lưỡng nghi hợp nhất.
Ta nên nhớ lại bài thơ của sách Ngộ Chân Thiên:
Đông (Giáp Ất Mộc) tam, Nam (Bính Đinh Hoả) Nhị đồng thành Ngũ,
Bắc (Nhâm Quí Thuỷ) Nhất, Tây (Canh Tân Kim) Phương tứ cộng chi.
Mậu kỷ (Trung ương Thổ) tự cư sinh số Ngũ.
Tam gia tương kiến kết anh nhi.
Hiểu bài thơ trên thì bài viết về Ngũ Khí Triều Nguyên trên đây, tự nhiên sẽ sáng ra.
...
Muốn được như vậy, thì người tu luyện phải dụng công phu định cái tâm, gìn cái ý mà bế ngũ quan. Ngũ quan là: Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân. Ngũ quan lại thuộc về ngũ tạng, ăn với ngũ hành.
Bế thiệt quan thì Can Mộc chẳng đảo xiêu. Người tu không nóng nảy, hờn giận ắt Hồn định, Khí ở gan trong sạch tốt đẹp, là Thanh-Đế ở phương Đông vị Mộc Khí triều ngươn, ngựa xanh quy về Trung ương Hoàng cực.
Bế tỉ quan thì Phế Kim phân chì sắt. Không buồn rầu ắt Phách định, là Bạch-Đế ở phương Tây vị Kim Khí triều ngươn, ngựa trắng quy về Trung ương Hoàng cực.
Bế nhĩ quan thì Thận Thủy mới lưu hành. Không kinh khủng sợ sệt quá ắt Tinh không động, là Hắc-Đế ở phương Bắc vị Thủy Khí triều ngươn, ngựa đen quy về Trung ương Hoàng cực.
Bế nhãn quan thì Tâm Hỏa không bừng cháy. Không mừng vui, xúc động thái quá ắt Thần an định, là Xích-Đế ở phương Nam vị Hỏa Khí triều ngươn, ngựa đỏ quy về Trung ương Hoàng cực.
Bế thân quan thì Tỳ Thổ đặng sanh khí. Không vọng tưởng mơ ước, không tính toán mưu cầu theo tham dục ắt Ý định, là Trung ương Hoàng-Đế vị Thổ Khí triều ngươn.
Bế ngũ quan nghĩa là gìn giữ không để cho tâm ý buông lung phóng túng, chạy bậy ra ngoài theo ngũ giác quan, mà phải quay về nội giới lắng nghe, quan sát, luyện Thần-Khí vận chuyển trong châu thân.
Khi đã bế ngũ quan lại phải giữ gìn lấy tam bửu mà luyện chơn chưởng thành đồ cho Tinh hóa Khí, Khí hóa Thần, Thần hoàn hư. Ba báu quy về kim đảnh, “Tam hoa tụ đảnh” là thành Đạo.
Bịt tai là bảo Tinh. Lỗ tai thuộc Thận, nếu nghe âm thanh bên ngoài, đàn ca hát xướng, lời nói êm ái dịu ngọt kích động lòng ham muốn mà hao Tinh. Nên phải nghe vô trong chẳng nghe ra ngoài. Nếu có nghe thì chỉ nghe những điều lễ nghĩa, đạo đức thiện từ. Nho-giáo có câu “Phi lễ vật thính” nghĩa là chẳng phải lễ chẳng nghe, Đạo-giáo có câu “Thính chi bất văn”, nghĩa là nghe đó mà dường như chẳng nghe, ấy là phép trừ âm thanh bên ngoài.
Bịt tai là tịnh thân nghiệp đặng kiến Quan Âm mà lắng nghe lại lòng mình, dụng Pháp Quy Tức Công luyện Tinh hóa Khí (Quay vào Hoàng-Đế nam mô), lìa xa được “Hạ-tiêu”, tức là đường dẫn khí nằm ở phía trên bàng quang, chủ về phân biệt thanh trược (chỉ ra mà không vô). Có diệt được sự dâm dục, có đoạn được dâm căn thì “Tinh” mới đầy mà “Hoa chì” (Nhân hoa) mới nở.
Ngươn Tinh là vật báu vô giá, được xem là đơn dược trường sanh bất tử, là chất liệu để tạo thành “Nhị Xác Thân”. Nó là nguồn năng lượng giúp cho Thần-trí quang minh sáng suốt, đưa Linh-hồn phi thăng siêu thoát. Nhưng phải biết cách tu luyện thì nó còn, không biết cách thì nó tẩu lậu ra ngoài mà mất đi. Vấn đề này làm đệ tử nhớ lại lời dạy của Đạo-Sư về việc trị thủy của hai cha-con ông Cổn và Hạ-Vũ. Nước Trung-Quốc, vào thời xa xưa, hằng năm, nước dâng lên ngập lụt khiến cho nhơn dân nguy khốn, lầm than, làm hại chết rất nhiều sanh linh. Sau đó, Vua mới sai ông Cổn đi trị thủy mà trừ tai họa, giải ách nạn cho muôn dân bá tánh. Ông Cổn không thông luật âm-dương biến hóa, ngũ hành sanh khắc, nên hậu quả đã không trị thủy được mà còn làm cho ngập úng thêm, khiến vô số sanh chúng phải thiệt mạng. Sau đó, ông Hạ-Vũ là con nối nghiệp cha, là người tinh thông lý số Lạc-Thơ, kinh nghiệm sự thất bại trước và biết được tính chất của Thủy, nên đã khai thông các kênh mạch đưa nước trở về nguồn cội là biển cả, mà trừ đặng tai ách cho nhân dân, cứu vớt được vô số sanh linh. Người tu luyện biết cách khai kinh mở lạc, dẫn nước về nguồn cội là bộ đầu, là huyệt Bách-hội, nơi chư dương sở tụ (Thiên nhất sanh Thủy), thì cứu vớt được vô số chúng sanh. Ấy là Tinh ba trong thân người đã được hóa Khí, là cơ “Tận-Độ” trong bản thể. Đây cũng chính là chơn ý nghĩa của ngày “Hạ ngươn Thủy-Quan giải ách”.
Bịt miệng là để tích Khí. Người xưa có câu “Khẩu khai Thần-Khí tán, thiệt động thị phi sanh”. Ít nói cho khí tụ thì hơi không lậu ra, bớt lời bớt việc là dưỡng đặng chỗ khí. Nếu có nói thì chỉ nói những lời lẽ khiêm cung thiện từ, Đạo-đức, như lời Đức Khổng Phu Tử đã dạy: “Gặp người đáng nói mà không nói thì mất người, gặp người không đáng nói mà nói thì mất lời”, hay Nho-giáo có câu “Không Lễ chớ nói”. Bịt miệng là tịnh khẩu nghiệp đặng nuôi dưỡng lấy Ngươn Khí, là Khí Thái-Bạch Kim-Tinh, là cái Khí Hạo Nhiên châu lưu vận hành bao quát trong thân người. Tâm hồn thanh tịnh, không không, ắt là Khí hòa hoãn bình yên, Đạo thông suốt. Người tu luyện Khí hóa Thần, lìa bỏ “Trung-tiêu”, tức là mạch dẫn khí nằm ở lằng trong bao tử. Bụng của cơ thể người được ví như nghĩa địa chất chứa thịt cá thối tha. Tỳ-vị thuộc Thổ, bỏ thịt cá ăn ngũ cốc để giữ vệ sinh cho bụng được sạch sẽ thanh tịnh, ba tấc trược khí dứt, thanh khí trở về lúc ban đầu. Và đây chính là chơn ý nghĩa của ngày “Trung-ngươn Địa-Quan xá tội”. Trung Khí đầy đủ thì ít nghĩ đến ăn, “Hoa bạc” (Địa hoa) mới nở.
Bịt mắt là tồn Thần. Con mắt là tổ khiếu của Thần, hễ nhìn ngó sắc lâu thì Thần theo sắc mà tán. Nho-giáo có câu “Phi lễ vật thị”, nghĩa là chẳng phải Lễ chẳng ngó, Đạo-giáo có câu “Thị chi bất kiến”, nghĩa là xem đó mà dường như chẳng thấy. Đó là phép “Hồi quan phản chiếu”, tịnh tâm nghiệp đặng kiến Quan-Thánh Đế-Quân. Người tu luyện Thần hoàn hư, lìa bỏ “Thượng-tiêu”, tức là mạch dẫn khí nằm ở trên bao tử mới không chấp trước, Thần đầy ít ngủ. Khử trừ ý niệm tham dục, dẹp bỏ tư tưởng tà dâm, ắt Thần-trí sáng ngời, hồn trong lặng tỉnh táo thoát xác trở về hư vô vào cảnh giới hư không mầu nhiệm, “Hoa vàng” (Thiên hoa) bừng nở.
http://thoicocaodaidaidao.blogspot.com/2012/06/luan-ao.html
...
http://chieuminh.free.fr/CMDPT37.html
Đàn ngày 03 – 04 Bính Dần
nhằm ngày 11 – 05 – 1986 (241)
nhằm ngày 11 – 05 – 1986 (241)
THI :NGỌC quí đừng cho có vết tỳ,
HƯ rồi mất đẹp chẳng ra chi.
CHƠN thường đạo pháp năng tu kỷ,
TIÊN Phật muốn thành ngũ khí qui.
HƯ rồi mất đẹp chẳng ra chi.
CHƠN thường đạo pháp năng tu kỷ,
TIÊN Phật muốn thành ngũ khí qui.
NGỌC HƯ CHƠN TIÊN. Bần Đạo chào chư đệ muội có lòng dưng lễ ngày kỷ niệm của Bần Đạo. Bần Đạo đáp ơn cho chư đệ muội hai chữ Từ Bi.
Bần Đạo vui cùng chư đệ muội chí tâm lo cho cơ đạo. Đạo Thầy vô vi mà cũng có một phần hữu hình để tượng trưng cái đạo bề ngoài. Vậy chư đệ muội tu thì phải có cái đức hạnh, lễ nghi minh chánh để mà làm cái gương lành cho chúng sanh soi đó mà mến cái đạo của Thầy. Đó là tu kỷ hóa nhân.
Bần Đạo vui cùng chư đệ muội chí tâm lo cho cơ đạo. Đạo Thầy vô vi mà cũng có một phần hữu hình để tượng trưng cái đạo bề ngoài. Vậy chư đệ muội tu thì phải có cái đức hạnh, lễ nghi minh chánh để mà làm cái gương lành cho chúng sanh soi đó mà mến cái đạo của Thầy. Đó là tu kỷ hóa nhân.
BÀI : Ngồi tu luyện đầu ngay mình thẳng,
Đã bao lần Thầy dặn chẳng lo.
Nghiêng qua ngả lại ngủ khò,
Làm cho Thần phải vào lò Ngũ Âm.
Tu như thế khó tầm chơn lý,
Tu như vầy âm khí còn nhiều.
Bần thương, Bần phải dắt dìu.
Tu cho đúng pháp âm tiêu dương thuần.
Luyện chơn tức huân chuân đầm ấm,
Khí Hạo Nhiên rọi thấm cội tùng.
Cá kia muốn hóa nên rồng,
Công phu bốn buổi huyền công đúng giờ.
Luyện Chơn Khí như tờ phẳng lặng,
Khí hóa Thần bay thẳng Nê Hườn.
An nhiên dưỡng dục chơn hồn,
Để tâm thanh tịnh bảo tồn Chơn Như.
Đạo pháp vốn huyền vi thâm viễn,
Để sai rồi biến phải Bàng Môn.
Thuyền kia lạc lái sa cồn,
Làm sao phá đặng Thiên Môn mà về ?
Đã bao lần Thầy dặn chẳng lo.
Nghiêng qua ngả lại ngủ khò,
Làm cho Thần phải vào lò Ngũ Âm.
Tu như thế khó tầm chơn lý,
Tu như vầy âm khí còn nhiều.
Bần thương, Bần phải dắt dìu.
Tu cho đúng pháp âm tiêu dương thuần.
Luyện chơn tức huân chuân đầm ấm,
Khí Hạo Nhiên rọi thấm cội tùng.
Cá kia muốn hóa nên rồng,
Công phu bốn buổi huyền công đúng giờ.
Luyện Chơn Khí như tờ phẳng lặng,
Khí hóa Thần bay thẳng Nê Hườn.
An nhiên dưỡng dục chơn hồn,
Để tâm thanh tịnh bảo tồn Chơn Như.
Đạo pháp vốn huyền vi thâm viễn,
Để sai rồi biến phải Bàng Môn.
Thuyền kia lạc lái sa cồn,
Làm sao phá đặng Thiên Môn mà về ?
Về cầu nguyện của GIỎI, MỸ, Ý. Thầy sẽ cho MUÔN lai Đàn ngày rằm Trung Thu tại Linh Bửu.
Vậy Bần Đạo cùng chư đệ muội hoan ẩm Bồ Đào. Bần Đạo thăng…
Vậy Bần Đạo cùng chư đệ muội hoan ẩm Bồ Đào. Bần Đạo thăng…
Đàn ngày 14 – 04 Bính Dần
nhằm ngày 22 – 05 – 1986 (242)
nhằm ngày 22 – 05 – 1986 (242)
THI :HUỆ khai minh tánh đạo chơn thường,
Ý nguyện tu hành nhựt nhựt dương.
TIÊN bút vẫy vùng tròn đức cả,
CÔ gia tường tận ngọn ngành dương.
Ý nguyện tu hành nhựt nhựt dương.
TIÊN bút vẫy vùng tròn đức cả,
CÔ gia tường tận ngọn ngành dương.
HUỆ Ý TIÊN CÔ chào chung chư liệt vị Đàn Trung, hữu hạnh thay cho tôi hôm nay được lâm cơ báo đàn. Chào mừng hiền muội ÚT, mừng nhị nhục tử NAM, PHONG. Danh MINH ĐIỆP. Chư vị đọc bài Mừng Thầy giá lâm. Tôi chào lui…
Tiếp cầu :
Tiếp cầu :
THI :CAO minh khai pháp đạo nơi thân,
ĐÀI ngọc Chơn Như chẳng dính trần.
TIÊN hữu hạnh Kỳ Tam ngộ đắc,
ÔNG NGÔ lời dạy trẻ cam tâm.
ĐÀI ngọc Chơn Như chẳng dính trần.
TIÊN hữu hạnh Kỳ Tam ngộ đắc,
ÔNG NGÔ lời dạy trẻ cam tâm.
CAO ĐÀI TIÊN ÔNG – NGÔ TIÊN ÔNG. Thầy mừng các con nam nữ Kim Đàn. Thầy ban đại ân cho các con nhân hội ngày Giáng Sinh của Thế Tôn.
Thầy mừng cho THỌ được sang Nhị Bộ và chứng lễ Tam Niên cho THI. Thầy miễn lễ các con lóng tai nghe kỹ.
Thầy mừng cho THỌ được sang Nhị Bộ và chứng lễ Tam Niên cho THI. Thầy miễn lễ các con lóng tai nghe kỹ.
BÀI : THỌ, Nhị Bộ bình tâm hạ khí.
Gom Thần qui trực chỉ Thiên Môn.
Gió đưa Phật Tử lên cồn,
Hoa sen tươi thắm Càn Khôn giao hòa.
Định Tâm Trung cho ra Phật Tử,
Lóng tai nghe ý hướng gom về.
Lần lần nửa tỉnh nửa mê,
Con đường siêu xuất là đề Tiên gia.
Cẩn thận phòng nghe Cha chỉ rõ,
Lời giáo truyền sáng tỏ con thâu.
Tâm yên tịnh định là đầu,
Bốn thời con nhớ thấm sâu đạo Thầy !
THI con trẻ rán quây bánh Pháp,
Ơn của Thầy bát ngát con tin.
Tin tu con luyện con gìn,
Gìn cho đúng cách Thầy minh cho trò.
Con rán hiểu lần dò pháp đạo !
Đạo nơi thân lộn lạo trược thanh.
Thanh khinh trược giáng con rành,
Rành cho trúng lý con hành pháp hay. (Cười…)
Gom Thần qui trực chỉ Thiên Môn.
Gió đưa Phật Tử lên cồn,
Hoa sen tươi thắm Càn Khôn giao hòa.
Định Tâm Trung cho ra Phật Tử,
Lóng tai nghe ý hướng gom về.
Lần lần nửa tỉnh nửa mê,
Con đường siêu xuất là đề Tiên gia.
Cẩn thận phòng nghe Cha chỉ rõ,
Lời giáo truyền sáng tỏ con thâu.
Tâm yên tịnh định là đầu,
Bốn thời con nhớ thấm sâu đạo Thầy !
THI con trẻ rán quây bánh Pháp,
Ơn của Thầy bát ngát con tin.
Tin tu con luyện con gìn,
Gìn cho đúng cách Thầy minh cho trò.
Con rán hiểu lần dò pháp đạo !
Đạo nơi thân lộn lạo trược thanh.
Thanh khinh trược giáng con rành,
Rành cho trúng lý con hành pháp hay. (Cười…)
Tu khảo dượt nhiều quá con há ! Có vượt qua thử thách mới xứng đáng là môn đệ của Thầy.
Có khảo mới biết, có biết mới sợ, có sợ mới thấy mình còn……… Vậy các con hãy rán tu cho nhiều,
tâm cho tịnh. Đời là của đời, đạo là của con,
làm sao cho đạo nơi mình được sáng là đường về Thầy được nhẹ nhàng.
Thầy mong các con tu phải hiểu rành chơn truyền đạo pháp. Ít lời cho con. Bồ Đào Thầy ban,
Thầy phản giá…
Có khảo mới biết, có biết mới sợ, có sợ mới thấy mình còn……… Vậy các con hãy rán tu cho nhiều,
tâm cho tịnh. Đời là của đời, đạo là của con,
làm sao cho đạo nơi mình được sáng là đường về Thầy được nhẹ nhàng.
Thầy mong các con tu phải hiểu rành chơn truyền đạo pháp. Ít lời cho con. Bồ Đào Thầy ban,
Thầy phản giá…
Đàn ngày 14 – 05 Bính Dần
nhằm ngày 20 – 06 – 1986 (243)
nhằm ngày 20 – 06 – 1986 (243)
THI :NGỌC ánh hào quang vẹt ngút mù,
BỔ giùm đạo pháp vẹn muôn thu.
TIÊN Thiên nay đã thường in lối,
NƯƠNG bút đôi lời vẹn kiếp tu.
BỔ giùm đạo pháp vẹn muôn thu.
TIÊN Thiên nay đã thường in lối,
NƯƠNG bút đôi lời vẹn kiếp tu.
NGỌC BỔ TIÊN NƯƠNG chào chung chư liệt vị Đàn Trung.
Tôi kính chào đạo tỷ MINH HỒNG. Được lịnh Thầy về báo đàn, chư vị nào bị trược hãy cẩn thận !
Cho tôi gởi lời thăm toàn đạo hữu Đàn Huyền Quang. Danh MINH BỔ.
Chư vị đọc bài Mừng Thầy giá lâm.
Tiếp cầu :
Tôi kính chào đạo tỷ MINH HỒNG. Được lịnh Thầy về báo đàn, chư vị nào bị trược hãy cẩn thận !
Cho tôi gởi lời thăm toàn đạo hữu Đàn Huyền Quang. Danh MINH BỔ.
Chư vị đọc bài Mừng Thầy giá lâm.
Tiếp cầu :
THI :CAO mấy từng lên bước gập ghềnh,
ĐÀI sang trổi nhịp tấn đường mênh.
TIÊN gia đạo pháp gìn cho đúng,
ÔNG bảo con nghe một chữ Bền.
ĐÀI sang trổi nhịp tấn đường mênh.
TIÊN gia đạo pháp gìn cho đúng,
ÔNG bảo con nghe một chữ Bền.
HỰU : Bền lòng tu học bước theo chân,
Người trước kẻ sau nối bước lần.
Một mảnh tâm điền con giũ sạch,
Buộc ràng nhân thế khỏi thì nên.
Người trước kẻ sau nối bước lần.
Một mảnh tâm điền con giũ sạch,
Buộc ràng nhân thế khỏi thì nên.
HỰU : Nên hư cũng bởi các con gìn,
Gìn chặt lời truyền một đức tin.
Tin tưởng nhứt tâm đừng thối chí !
Chí cao ngày tháng bởi con………
Gìn chặt lời truyền một đức tin.
Tin tưởng nhứt tâm đừng thối chí !
Chí cao ngày tháng bởi con………
CAO ĐÀI TIÊN ÔNG. Thầy các con, Thầy mừng chung các con. Thầy miễn lễ các con nghe.
HOANH sang Nhị Bộ hãy tu cho nhiều và hết sức cẩn thận nghe ! (Cười…) Tài chi độ thế ! Cổi lòng cho được thanh tịnh………...Bước đạo càng đi càng giữ mình cho lắm, hiểu nghe !
Các con LỘC, THÀNH, CHƯƠNG ! Tu hành chẳng dễ, hãy cẩn thận.
Nấu cơm phải giữ lửa cho đúng thời khắc. Thầy nói ít, các con hiểu nhiều !
HOANH sang Nhị Bộ hãy tu cho nhiều và hết sức cẩn thận nghe ! (Cười…) Tài chi độ thế ! Cổi lòng cho được thanh tịnh………...Bước đạo càng đi càng giữ mình cho lắm, hiểu nghe !
Các con LỘC, THÀNH, CHƯƠNG ! Tu hành chẳng dễ, hãy cẩn thận.
Nấu cơm phải giữ lửa cho đúng thời khắc. Thầy nói ít, các con hiểu nhiều !
BÀI : Cơ luyện đạo gìn y sau trước,
Con nghe lời mới được thành công.
Giữ cho đạo pháp nơi lòng,
Phát huy Thần Khí huyền công Đơn bày.
Nhìn cho rõ cái hay vận chuyển,
Xem cho rành khí biến Huyền Quang.
Con tu động tịnh đôi hàng,
Huệ tâm tự phát di nang cẩm đề.
Tu cho được lối về Tiên cảnh,
Tu cho mình đừng gánh nợ đời.
Đời là một cuộc luân vơi,
Biết tu biết nghĩ luật Trời chẳng xê.
Thương con trẻ đôi đề dặn bảo,
Con y hành tiết tháo Thầy mừng.
Đạo là đạo cả con tuân,
Tu cho thấy đạo mới mừng nghe con.
Con nghe lời mới được thành công.
Giữ cho đạo pháp nơi lòng,
Phát huy Thần Khí huyền công Đơn bày.
Nhìn cho rõ cái hay vận chuyển,
Xem cho rành khí biến Huyền Quang.
Con tu động tịnh đôi hàng,
Huệ tâm tự phát di nang cẩm đề.
Tu cho được lối về Tiên cảnh,
Tu cho mình đừng gánh nợ đời.
Đời là một cuộc luân vơi,
Biết tu biết nghĩ luật Trời chẳng xê.
Thương con trẻ đôi đề dặn bảo,
Con y hành tiết tháo Thầy mừng.
Đạo là đạo cả con tuân,
Tu cho thấy đạo mới mừng nghe con.
Thầy ban ơn và Bồ Đào các con gội nhuần. Thầy phản giá…
Đàn ngày 14 – 07 Bính Dần
nhằm ngày 19 – 08 – 1986 (244)
nhằm ngày 19 – 08 – 1986 (244)
THI :CAO đạo đạo cao bất viễn cầu,
ĐÀI tiền chơn pháp luyện thâm sâu.
TIÊN Thiên khí thể qui y tại,
ÔNG ứng cho con mọi sở đầu.
ĐÀI tiền chơn pháp luyện thâm sâu.
TIÊN Thiên khí thể qui y tại,
ÔNG ứng cho con mọi sở đầu.
HỰU :Đầu mối pháp luân chuyển tại thân,
Thân tâm thanh tịnh Chiếu Minh lần.
Lần mò khí vận Huyền Quang phát,
Phát thấu Thiên Cung sáng tợ ngần.
Thân tâm thanh tịnh Chiếu Minh lần.
Lần mò khí vận Huyền Quang phát,
Phát thấu Thiên Cung sáng tợ ngần.
CAO ĐÀI TIÊN ÔNG. Thầy các con, Thầy mừng chung các con nam nữ Kim Đàn.
Ngày Trung Ngươn Đại Đán, Thầy đến với các con trong đạo pháp hiện thành.
Thầy ban đại ơn hồng cho các con. Thầy miễn lễ các con nghe.
Thầy chứng lễ 12 năm cho NGỌC (1), LÁ, TRÂM, CHÍNH. Thầy chứng lễ 3 năm cho NGỌC (2),
BA sang Nhị Bộ, cẩn thận tu cho kỷ !
Ngày Trung Ngươn Đại Đán, Thầy đến với các con trong đạo pháp hiện thành.
Thầy ban đại ơn hồng cho các con. Thầy miễn lễ các con nghe.
Thầy chứng lễ 12 năm cho NGỌC (1), LÁ, TRÂM, CHÍNH. Thầy chứng lễ 3 năm cho NGỌC (2),
BA sang Nhị Bộ, cẩn thận tu cho kỷ !
BÀI : Muốn chứng đạt đạo mầu Minh Chiếu,
Chiếu Tâm Trung lo liệu được yên.
Nhìn về đạo pháp Cao Tiên,
Con nào tu học kiền thiền biết không ?
Tu cho kỹ đúng lằn đúng mức,
Tu cho siêng vượt bực sở cầu.
Đạo là đạo cả nông sâu,
Tùy công tu luyện đắc cầu tự nơi.
Dòng đạo cả con khơi cho đúng,
Khí hóa Thần phải dụng pháp hay.
Hỏi con nào hiểu ra tài ?
Tài minh được pháp chẳng ngoài nhứt tâm. (Cười…)
Chiếu Tâm Trung lo liệu được yên.
Nhìn về đạo pháp Cao Tiên,
Con nào tu học kiền thiền biết không ?
Tu cho kỹ đúng lằn đúng mức,
Tu cho siêng vượt bực sở cầu.
Đạo là đạo cả nông sâu,
Tùy công tu luyện đắc cầu tự nơi.
Dòng đạo cả con khơi cho đúng,
Khí hóa Thần phải dụng pháp hay.
Hỏi con nào hiểu ra tài ?
Tài minh được pháp chẳng ngoài nhứt tâm. (Cười…)
Thầy ban ơn cho ĐẠI GIÁC về hội ngộ cùng các con. Các con nghiêm Đàn tiếp ĐẠI GIÁC vào cơ. Thầy ngự ỷ…
Tiếp cầu :
Tiếp cầu :
THI :ĐẠI Đạo tu Đơn luyện trống lòng,
GIÁC nhìn chơn pháp, pháp ra công.
CHƠN thành đầu mối qui Tam Bửu,
TIÊN Phật chứng rồi lậu tận thông.
GIÁC nhìn chơn pháp, pháp ra công.
CHƠN thành đầu mối qui Tam Bửu,
TIÊN Phật chứng rồi lậu tận thông.
ĐẠI GIÁC CHƠN TIÊN. Bần Đạo mừng chung chư đệ muội trong một năm tu học.
HÀNH ! Đạo luyện phải cho kỹ, tâm cho yên để tiếp nhận linh khí vận hành. Rán tu thêm rồi Thầy sẽ chứng lễ nghe. Tự hiểu lấy mình mà cẩn trọng.
Chư đệ muội nghe : Muốn cho đạo phát thì phải dứt bỏ thắng thúc của đời để tâm thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh mới dụng pháp vận hành. Mọi cách thức đều có ý nghĩa của đạo pháp. Đừng vội buông lời khi mình chưa chứng đạt !
Hôm nay Bần Đạo rất vui vì đã có sự ấn chứng tại tiền về đạo pháp. Dầu Bần Đạo không có trực tiếp nhưng Bần Đạo vẫn kề bên đệ muội trong lĩnh vực vô vi diệu hữu.
HÀNH ! Đạo luyện phải cho kỹ, tâm cho yên để tiếp nhận linh khí vận hành. Rán tu thêm rồi Thầy sẽ chứng lễ nghe. Tự hiểu lấy mình mà cẩn trọng.
Chư đệ muội nghe : Muốn cho đạo phát thì phải dứt bỏ thắng thúc của đời để tâm thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh mới dụng pháp vận hành. Mọi cách thức đều có ý nghĩa của đạo pháp. Đừng vội buông lời khi mình chưa chứng đạt !
Hôm nay Bần Đạo rất vui vì đã có sự ấn chứng tại tiền về đạo pháp. Dầu Bần Đạo không có trực tiếp nhưng Bần Đạo vẫn kề bên đệ muội trong lĩnh vực vô vi diệu hữu.
KỆ :Thừa lịnh Thầy, Bồ Đào ban thưởng.
Chứng đạo mầu ý hướng cao siêu.
Bần Đạo phản hồi…
Chứng đạo mầu ý hướng cao siêu.
Bần Đạo phản hồi…
Đàn ngày 15 – 08 Bính Dần
nhằm ngày 18 – 09 – 1986 (245)
nhằm ngày 18 – 09 – 1986 (245)
THI :CAO nguồn đạo pháp thiêng,
ĐÀI ngọc định tịnh thiền.
TIÊN Đơn Thần linh dược,
ÔNG đắc pháp gia Tiên.
ĐÀI ngọc định tịnh thiền.
TIÊN Đơn Thần linh dược,
ÔNG đắc pháp gia Tiên.
HỰU : Tiên Thiên chơn pháp đạt thâm sâu,
Diệu ứng cho con mọi sở cầu.
Chơn đắc tâm truyền ai rõ thấu ?
Kìa kìa con nhớ đạo nơi đâu ?
Diệu ứng cho con mọi sở cầu.
Chơn đắc tâm truyền ai rõ thấu ?
Kìa kìa con nhớ đạo nơi đâu ?
HỰU :Đâu là kết quả pháp Cha truyền ?
Sở đắc y hành sở đắc Thiên.
Thiên Địa dịch hành cho đúng lúc,
Thì con mới biết đạo như nhiên.
Sở đắc y hành sở đắc Thiên.
Thiên Địa dịch hành cho đúng lúc,
Thì con mới biết đạo như nhiên.
CAO ĐÀI TIÊN ÔNG. Thầy các con, Thầy mừng chung các con. Nay ngày kỷ niệm thành lập Đàn tuyển độ nơi đây, Thầy đến cùng các con để thể hiện được đạo pháp vô vi.
Thầy đại hỷ đại xả và ban ơn cho các con tâm thiền ý định để tiếp được Chơn Pháp Vô Vi. (Cười…) Hữu phước thay cho các con ! Thầy miễn lễ các con nghe.
Thầy đại hỷ đại xả và ban ơn cho các con tâm thiền ý định để tiếp được Chơn Pháp Vô Vi. (Cười…) Hữu phước thay cho các con ! Thầy miễn lễ các con nghe.
BÀI : Tu Đơn luyện kỷ bốn giờ,
Vận hành Chơn Pháp đợi chờ thuốc sanh.
Đắc linh dược ngọc lành rực rỡ,
Quây Hà Xa khai mở Côn Lôn.
Gió lai rai mát Nê Hườn,
Chơn thành tâm đạt từng cơn thừa nhàn.
Công tu luyện bỉ bàn đạt thấu,
Thấu Tâm Trung huyền khí dấu thành.
Kìa là ngũ vị phô tranh !
Con gom cho được cho rành Triều Ngươn. (Cười…)
Vận hành Chơn Pháp đợi chờ thuốc sanh.
Đắc linh dược ngọc lành rực rỡ,
Quây Hà Xa khai mở Côn Lôn.
Gió lai rai mát Nê Hườn,
Chơn thành tâm đạt từng cơn thừa nhàn.
Công tu luyện bỉ bàn đạt thấu,
Thấu Tâm Trung huyền khí dấu thành.
Kìa là ngũ vị phô tranh !
Con gom cho được cho rành Triều Ngươn. (Cười…)
Thầy chứng lễ trăm ngày cho MINH THUẬN, MINH DUNG và ân phong cho :
-MINH THUẬN là ĐỨC THUẬN CHƠN TIÊN.
-MINH DUNG là PHÁP DUNG TIÊN CÔ.
Thầy mừng cho MINH ANH được sang Nhị Bộ, Thầy chứng lễ Cửu Niên cho NGỌC ĐẢNH. QUANG sao con ? Tu hành cho đúng phép là con trả ơn cho Thầy nghe.
Giữ cho đúng luật thì đạo mới mau phát, hãy cẩn thận trong mọi trường hợp giao tế. Thầy nói ít, con hiểu ngầm. Các con có điều gì bạch cùng Thầy ?
Đạo hữu BÀN bạch : ………………
Con hỏi như vậy là điều đáng mừng nhưng hơi quá sức của con. Các con nghe : Sự thành đạt đạo quả phải đi từ bước đầu. Sự chứng đạt phải thể hiện một cách cụ thể nơi thân và liên tục.
Khi chứng được sự rồi thì con mới rõ lý vậy. Giờ đây Thầy hỏi con nghe : Ngọn đèn ở bàn Hậu Thiên để chỉ cái gì ? Đạo hữu MINH BÀN bạch : Bạch Thầy ! Con chưa rõ.
Vậy từ nay các con hãy rán tu cho chứng đạt nơi thân thì con mới hiểu.
-MINH THUẬN là ĐỨC THUẬN CHƠN TIÊN.
-MINH DUNG là PHÁP DUNG TIÊN CÔ.
Thầy mừng cho MINH ANH được sang Nhị Bộ, Thầy chứng lễ Cửu Niên cho NGỌC ĐẢNH. QUANG sao con ? Tu hành cho đúng phép là con trả ơn cho Thầy nghe.
Giữ cho đúng luật thì đạo mới mau phát, hãy cẩn thận trong mọi trường hợp giao tế. Thầy nói ít, con hiểu ngầm. Các con có điều gì bạch cùng Thầy ?
Đạo hữu BÀN bạch : ………………
Con hỏi như vậy là điều đáng mừng nhưng hơi quá sức của con. Các con nghe : Sự thành đạt đạo quả phải đi từ bước đầu. Sự chứng đạt phải thể hiện một cách cụ thể nơi thân và liên tục.
Khi chứng được sự rồi thì con mới rõ lý vậy. Giờ đây Thầy hỏi con nghe : Ngọn đèn ở bàn Hậu Thiên để chỉ cái gì ? Đạo hữu MINH BÀN bạch : Bạch Thầy ! Con chưa rõ.
Vậy từ nay các con hãy rán tu cho chứng đạt nơi thân thì con mới hiểu.
BÀI : Nhìn Thiên Bàn vật bày sắp sẵn,
Nhìn thân con chắc chắn giống y.
Hễ Trời có những món chi,
Thì con cũng có đủ y như Trời. (Cười…)
Nhìn thân con chắc chắn giống y.
Hễ Trời có những món chi,
Thì con cũng có đủ y như Trời. (Cười…)
Thầy ban ơn cho các con và Bồ Đào hoan ẩm. Thầy phản giá.Thăng…
Đàn ngày 15 – 10 Bính Dần
nhằm ngày 16 – 11 – 1986 (246)
nhằm ngày 16 – 11 – 1986 (246)
THI :CAO pháp muốn tường chí đức chơn,
ĐÀI tiền luyện Ngũ Khí Triều Ngươn.
TIÊN Thiên khí chất Tam Huê phát,
ÔNG Phật muốn thành phải kiết Đơn. (Cười…)
ĐÀI tiền luyện Ngũ Khí Triều Ngươn.
TIÊN Thiên khí chất Tam Huê phát,
ÔNG Phật muốn thành phải kiết Đơn. (Cười…)
HỰU :Đơn dược đầu tiên mới luyện Thần,
Thần hườn nhờ bởi Khí khinh thân.
Thân tu cho hạp đường Tiên đạo,
Đạo đức đi đôi mới được phần.
Thần hườn nhờ bởi Khí khinh thân.
Thân tu cho hạp đường Tiên đạo,
Đạo đức đi đôi mới được phần.
HỰU : Phần thưởng Thầy dành kẻ chí tâm,
Tâm linh đắc lý lý không lầm.
Lầm vì không chứng đường chơn đạo,
Đạo pháp Thầy truyền quá diệu thâm.
Tâm linh đắc lý lý không lầm.
Lầm vì không chứng đường chơn đạo,
Đạo pháp Thầy truyền quá diệu thâm.
CAO ĐÀI TIÊN ÔNG. Thầy các con, Thầy mừng chung các con nam nữ đàn tiền,
Thầy ban ơn cho các con. Thầy miễn lễ các con nghe.
Thầy ban ơn cho các con. Thầy miễn lễ các con nghe.
BÀI :Đạo là vốn Hư Vô chi khí,
Phân Âm Dương nhị lý tác thành.
Đó là đầu mối sản sanh,
Con tu có biết ngọn ngành hay không ?
Kìa Chơn Pháp trong vòng huyền biến !
Đắc Tâm Trung hiển hiện rõ ràng.
Trong ngoài cướp khí Hạo sang,
Cho vừa cho đúng Tiên Đan mới thành.
Rồi từ đó con an phăng tới,
Ngũ Khí trào dâng tới con gom.
Mới hay rằng đạo trông dòm,
Thể kia xuất hiện đường mòn con hay. (Cười…)
Phân Âm Dương nhị lý tác thành.
Đó là đầu mối sản sanh,
Con tu có biết ngọn ngành hay không ?
Kìa Chơn Pháp trong vòng huyền biến !
Đắc Tâm Trung hiển hiện rõ ràng.
Trong ngoài cướp khí Hạo sang,
Cho vừa cho đúng Tiên Đan mới thành.
Rồi từ đó con an phăng tới,
Ngũ Khí trào dâng tới con gom.
Mới hay rằng đạo trông dòm,
Thể kia xuất hiện đường mòn con hay. (Cười…)
Các con tu hành khá cẩn thận. Trược thanh là đầu mối biện phân vì khi các con cướp khí Dương vào mà bị trược thì không thể tạo được Kim Đơn, nghe à !
Có tu lâu ngày tháng và chiêm nghiệm Pháp Luân Thường Chuyển nơi thân thì con mới rõ được. Đừng vướng bận chút gì trần tục nơi tâm thì các con mới thấy rõ khi các con ngồi luyện. (Cười…)
Có tu lâu ngày tháng và chiêm nghiệm Pháp Luân Thường Chuyển nơi thân thì con mới rõ được. Đừng vướng bận chút gì trần tục nơi tâm thì các con mới thấy rõ khi các con ngồi luyện. (Cười…)
THI :Đạo thì tu dốt, dốt lòng thông.
Mới giữ chơn truyền khỏi nẻo cong.
Đạo lý rõ ràng nhờ đắc pháp,
Mới hay tác hóa tại chơn lòng.
Mới giữ chơn truyền khỏi nẻo cong.
Đạo lý rõ ràng nhờ đắc pháp,
Mới hay tác hóa tại chơn lòng.
Thầy ban Bồ Đào cho các con. Thầy phản giá.Thăng…
Đàn 01 – 01 Đinh Mẹo
nhằm ngày 29 – 01 – 1987 (247)
nhằm ngày 29 – 01 – 1987 (247)
THI :CAO gầy linh dược cậy nguồn trong,
ĐÀI Đạo tu đơn chí bá tòng.
TIÊN pháp ẩn vi tri nhiệm lý,
ÔNG NGÔ thành đạt phải kỳ công.
ĐÀI Đạo tu đơn chí bá tòng.
TIÊN pháp ẩn vi tri nhiệm lý,
ÔNG NGÔ thành đạt phải kỳ công.
CAO ĐÀI TIÊN ÔNG – NGÔ TIÊN ÔNG. Thầy các con, Thầy mừng chung các con trong Tết Ngươn Tiêu, Thầy ban đại lành chung cho các con.
Trên bước đường tu học, các con phải tỏ ra mình là người môn đệ xứng đáng nghe !
Trên bước đường tu học, các con phải tỏ ra mình là người môn đệ xứng đáng nghe !
BÀI : Xuân đạo pháp khơi nguồn tươi sáng,
Xuân tâm hồn bản dạng Chiếu Minh.
Xuân qua đem lại bước trình,
Xuân về con nhớ đinh ninh lời nguyền.
Xuân Đại Đạo cần chuyên tác pháp,
Xuân ẩn vi thượng đạt như hà.
Xuân về ta lại biết ta,
Xuân đem con đến một nhà trường sanh.
Xuân tu học cho rành mọi lễ,
Xuân luyện đơn nên vẻ Phật Tiên.
Xuân tam giữ chặt mối giềng,
Xuân về Thầy trở nhà Tiên con lành.
Xuân tâm hồn bản dạng Chiếu Minh.
Xuân qua đem lại bước trình,
Xuân về con nhớ đinh ninh lời nguyền.
Xuân Đại Đạo cần chuyên tác pháp,
Xuân ẩn vi thượng đạt như hà.
Xuân về ta lại biết ta,
Xuân đem con đến một nhà trường sanh.
Xuân tu học cho rành mọi lễ,
Xuân luyện đơn nên vẻ Phật Tiên.
Xuân tam giữ chặt mối giềng,
Xuân về Thầy trở nhà Tiên con lành.
KỆ :Bồ Đào Thầy thưởng đêm thanh,
Các con tu học ơn lành Thầy ban.
Thăng…
Các con tu học ơn lành Thầy ban.
Thăng…
Đàn ngày 09 – 01 Đinh Mão
nhằm ngày 06 – 02 – 1987 (248)
nhằm ngày 06 – 02 – 1987 (248)
THI :CAO nguyền chỉ lối khách sang sông,
ĐÀI bửu giùm ai lánh bụi hồng.
THƯỢNG pháp vĩnh tồn người chí đức,
ĐẾ ân miên viễn kẻ lòng Không.
ĐÀI bửu giùm ai lánh bụi hồng.
THƯỢNG pháp vĩnh tồn người chí đức,
ĐẾ ân miên viễn kẻ lòng Không.
HỰU : Không lòng nhơn dục giữ chơn truyền,
Sau trước con hành đúng thỉ nguyên.
Mới khỏi lạc lầm cơ ngoại giáo,
Ân hồng Thầy rưới vĩnh tồn thiêng.
Sau trước con hành đúng thỉ nguyên.
Mới khỏi lạc lầm cơ ngoại giáo,
Ân hồng Thầy rưới vĩnh tồn thiêng.
HỰU : Thiêng Liêng đâu dạy trẻ hai lời,
Lời thật Thầy truyền chớ chẳng chơi.
Một mảy không ly đừng tưởng dễ,
Nghe con Thầy bảo có bao lời.
Lời thật Thầy truyền chớ chẳng chơi.
Một mảy không ly đừng tưởng dễ,
Nghe con Thầy bảo có bao lời.
CAO ĐÀI THƯỢNG ĐẾ. Thầy linh hồn các con trong mọi giới.
Thầy mừng các con vững niềm tin tưởng đạo pháp Thầy trao.
Thầy ban đại ân hồng cho mỗi trẻ đắc tâm thanh tịnh trong đạo pháp vô vi ứng hóa.
Thầy miễn lễ các con nghe.
BÀI : Tu thanh tịnh lòng Không tâm sáng,
Tu luyện đơn căn bản tứ thời.
Tu hành khổ nhọc đừng lơi !
Tu cho thấy đạo ở nơi thân phàm.
Pháp luyện đạo công tham kiên cố,
Giữ tinh thần đến chỗ Nhứt Như.
Kìa coi diệu pháp có từ !
Bao la thế giới thiếu dư bao giờ.
Tu luyện đơn căn bản tứ thời.
Tu hành khổ nhọc đừng lơi !
Tu cho thấy đạo ở nơi thân phàm.
Pháp luyện đạo công tham kiên cố,
Giữ tinh thần đến chỗ Nhứt Như.
Kìa coi diệu pháp có từ !
Bao la thế giới thiếu dư bao giờ.
Thầy ban ơn ĐẠI GIÁC vào cơ, con tiếp cầu. Thầy ngự ỷ…
Tiếp cầu :
THI :ĐẠI GIÁC là người rõ phép Thiên,
CHƠN như tạc thể đoạn tâm yên.
TIÊN thành kỳ ý di ngôn thạch,
Mừng thấy cơ duyên rõ hiện tiền.
CHƠN như tạc thể đoạn tâm yên.
TIÊN thành kỳ ý di ngôn thạch,
Mừng thấy cơ duyên rõ hiện tiền.
ĐẠI GIÁC CHƠN TIÊN. Bần Đạo thừa lịnh Thầy lâm cơ giờ nay có đôi lời cùng đệ muội.
TRỨ ! Đọc lại bài Dâng Bồ Đào nghe.
Đạo hữu TRỨ đọc : …………………
Khi Thầy ngự ỷ, phải đọc là Tiên Ông nghe ! Lẽ ra Thầy còn dạy thêm nhưng có đệ không biết giữ gìn, chớ Bần Đạo không lẽ gọi tên. Chư đệ muội nào có việc làm như thế từ nay trở đi không nên như vậy nữa mà có lỗi với Thầy.
TRỨ ! Đọc lại bài Dâng Bồ Đào nghe.
Đạo hữu TRỨ đọc : …………………
Khi Thầy ngự ỷ, phải đọc là Tiên Ông nghe ! Lẽ ra Thầy còn dạy thêm nhưng có đệ không biết giữ gìn, chớ Bần Đạo không lẽ gọi tên. Chư đệ muội nào có việc làm như thế từ nay trở đi không nên như vậy nữa mà có lỗi với Thầy.
KỆ :Bồ Đào Thầy thưởng ân Thiên,
Dùng vào thân định tâm điền vững an.
Bần Đạo giã từ…
Dùng vào thân định tâm điền vững an.
Bần Đạo giã từ…
Đàn ngày 15 – 01 Đinh Mão
nhằm ngày 12 – 02 – 1987 (249)
nhằm ngày 12 – 02 – 1987 (249)
THI :CAO ĐÀI Đại Đạo khí Hư Vô,
GIÁO CHỦ luyện đơn Bát Quái đồ.
Ngũ Khí Triều Ngươn linh khiếu mở,
Tam Huê Tụ Đảnh hiển Đồ Tô.
GIÁO CHỦ luyện đơn Bát Quái đồ.
Ngũ Khí Triều Ngươn linh khiếu mở,
Tam Huê Tụ Đảnh hiển Đồ Tô.
HỰU : Tô bồi Thánh thể thể như nhiên,
Vận khí thông linh kiết đạo huyền.
Huyền tẩn chi môn môn thể dược,
Mới rằng pháp nhiệm nhiệm Cao Tiên.
Vận khí thông linh kiết đạo huyền.
Huyền tẩn chi môn môn thể dược,
Mới rằng pháp nhiệm nhiệm Cao Tiên.
HỰU : Tiên Thiên Nhứt Khí khí hườn Không,
Không ấy là con mới liễu đồng.
Đồng ý thâm sâu sâu pháp chứng,
Chứng minh đạo quả quả cơ mầu.
Không ấy là con mới liễu đồng.
Đồng ý thâm sâu sâu pháp chứng,
Chứng minh đạo quả quả cơ mầu.
CAO ĐÀI GIÁO CHỦ. Thầy các con, Thầy mừng chung các con ngày Thượng Ngươn Đại Đán. Thầy ban ơn lành đạo cả cho các con, Thầy vui cùng các con giữ gìn đạo nghĩa chi môn.
Thầy chứng lễ 12 năm cho TRỨ, cẩn thận tu kỷ nghe con !
Thầy chứng lễ Cửu Niên cho HÀNH và QUANG, trược còn gần nghe hai con !
Thầy chứng lễ 9 năm cho ANH và ĐỨC, THỜI và PHẨM, rán tu cho kỹ nghe bốn con !
Thầy chứng lễ 3 năm cho ĐÍNH. Hay a ! Tu cho nhiều và cẩn trọng nghe ĐÍNH con !
Thầy miễn lễ, các con tịnh tâm nghe đôi lời.
Thầy chứng lễ 12 năm cho TRỨ, cẩn thận tu kỷ nghe con !
Thầy chứng lễ Cửu Niên cho HÀNH và QUANG, trược còn gần nghe hai con !
Thầy chứng lễ 9 năm cho ANH và ĐỨC, THỜI và PHẨM, rán tu cho kỹ nghe bốn con !
Thầy chứng lễ 3 năm cho ĐÍNH. Hay a ! Tu cho nhiều và cẩn trọng nghe ĐÍNH con !
Thầy miễn lễ, các con tịnh tâm nghe đôi lời.
BÀI : Tu cho biết trược biết thanh,
Tu cho biết rõ ngọn ngành đạo Cha.
Tu cho biết Phật biết ma,
Tu cho biết rõ chánh tà đôi nơi.
Tu cho biết được ý Trời,
Tu cho rõ được thế thời tịnh tâm.
Đạo cao quí huyền thâm vi diệu,
Đạo cao sâu con níu cho hay.
Các con mến đạo thương Thầy,
Ngày ngày vận chuyển phép hay cho tường.
Đường ngựa chạy buông cương con nhớ !
Trễ kiếp này khó thể gặp Cha.
Muốn lên nước Nhược Ta-bà,
Lời xưa con nhớ hành ra lẽ mầu.
Tu cho biết rõ ngọn ngành đạo Cha.
Tu cho biết Phật biết ma,
Tu cho biết rõ chánh tà đôi nơi.
Tu cho biết được ý Trời,
Tu cho rõ được thế thời tịnh tâm.
Đạo cao quí huyền thâm vi diệu,
Đạo cao sâu con níu cho hay.
Các con mến đạo thương Thầy,
Ngày ngày vận chuyển phép hay cho tường.
Đường ngựa chạy buông cương con nhớ !
Trễ kiếp này khó thể gặp Cha.
Muốn lên nước Nhược Ta-bà,
Lời xưa con nhớ hành ra lẽ mầu.
Nay Thầy ân hồng gia ban Thiên vị cho :
-MINH HUÊ là LẠC ẤN ĐẠO NHƠN.
-MINH BẢY là PHÁP THĂNG ĐẠO NHƠN.
Thầy vui cùng các con đắc quả vị về Thầy. Các con còn tại trần rán tu hành cho đúng ! Giữ chơn truyền Đại Đạo cho nghiêm hầu để làm gương cho người sau thấy, cũng là phần công quả đó nghe.Thầy ban Bồ Đào cho các con. Thầy phản giá.Thăng.
-MINH HUÊ là LẠC ẤN ĐẠO NHƠN.
-MINH BẢY là PHÁP THĂNG ĐẠO NHƠN.
Thầy vui cùng các con đắc quả vị về Thầy. Các con còn tại trần rán tu hành cho đúng ! Giữ chơn truyền Đại Đạo cho nghiêm hầu để làm gương cho người sau thấy, cũng là phần công quả đó nghe.Thầy ban Bồ Đào cho các con. Thầy phản giá.Thăng.
Chủ đề của Huỳnh Đình Kinh được khẳng định ngay từ đầu của bản Ngoại Cảnh: «Lão Quân nhàn cư tác thất ngôn, giải thuyết thân hình cập chư thần.» 老君閑居作七言,解說身形及諸神 (Lão Quân lúc thư nhàn, viết thơ 7 chữ, để giải thích về thân hình con người và các thần linh trong đó). Sự mô tả về Chư thần trong thân thể con người (nhân thân Chư thần 人身諸神) này rất chi tiết và chiếm phần lớn nhất trong văn bản Huỳnh Đình Kinh. Sự trình bày này và các lý thuyết liên quan đã ảnh hưởng đến sự phát triển về sau của thuyết nhân thân chư thần.
Tuy nhiên không phải thuyết nhân thân Chư thần được phát triển đầu tiên trong Huỳnh Đình Kinh, mà Huỳnh Đình Kinh cho đến nay được biết đến như là một tác phẩm tối cổ nêu ra danh xưng Chư thần quan trọng nhất trong thân thể con người và mô tả các chức năng của các ngài.
Từ đời Hán người ta đã biết đến nhân thân Chư thần rồi. Tuy nhiên các lý thuyết dẫn đến sự phát triển thuyết nhân thân Chư thần đã bắt nguồn từ các quan niệm xa xưa về sự hợp nhất giữa đại vũ trụ (Makrokosmos) và tiểu vũ trụ (Mikrokosmos).
Trong quyển Trung Quốc Đạo giáo sử 中國道教史, tác giả Phó Cần Gia 傅勤家 đã trình bày sự phát triển của thuyết Chư thần trong thân thể nơi chương Nhân thân trung chi thần 人身中之神 (thần ngụ trong thân thể con người) như sau: «Thái Bình Kinh 太平經 đã nói rõ nhân thân chư thần. Thiên Tinh thần huấn 精神訓 của quyển Hoài Nam Tử 淮南子 đã phân khí làm hai loại thần: âm và dương. Khí là sinh mệnh của vũ trụ, cũng là hoạt động lực. Theo Đạo giáo, nếu khí bên trong thân thể con người tương giao qua lại liên tục với khí của vũ trụ, tức là con người sống. Do đó mới có công phu luyện thổ cố nạp tân 吐故納新 (nhả hơi cũ, nuốt hơi mới), tức là công phu luyện khí, luyện đan. Rồi họ lại xem khí là thần; nơi ngũ tạng trong thân thể mỗi tạng đều có thần lai vãng. Cho nên muốn sống lâu thì phải nhìn thẳng (trực quán 直觀) các vị thần này và phải hợp nhất (đồng thể 同體) với các ngài.»
Phó Cần Gia cũng giải thích ở đây sự phát sinh nhân thân Chư thần là từ cùng một khí mà khí này tạo ra nhân thân và vũ trụ. Về khía cạnh khí, Porkert đã giảng rõ trong quyển Thuật ngữ về Khí trong kinh sách y học Trung Quốc: «Sự biến đổi của sự sinh hóa đặt nền tảng trên khí. Trong muôn vật của vũ trụ không có gì mà không phát sinh từ khí. Khí bao trùm vũ trụ và khí tác động vũ trụ từ bên trong. Khí tác động những thứ khác: mặt trời, mặt trăng, hành tinh, định tinh chiếu sáng; sấm mưa mây gió hình thành; vạn vật suốt bốn mùa sinh, trưởng, thu, tàng. Sự hiện hữu của con người hoàn toàn tùy thuộc vào khí.»
Ta có công thức ngắn gọn:
Khí = năng lực tạo ra đại vũ trụ.
Một câu phát biểu tương tự cũng có thể áp dụng với tinh 精. Haloun cũng nhìn nhận: «Khí tương đối đơn giản. Ý nghĩa ban đầu chỉ là «không khí» (air), là «không khí dày dặc» (thick air). Chúng ta có giả thuyết là: Khí là nền tảng vật chất của vũ trụ (the physical basis of the universe)… Thuyết của người Trung Quốc là: Khí tác động thông qua một tác nhân gọi là tinh 精, thường được phiên dịch là «tinh túy» (essence).»
Trong Quản Tử, sự tạo thành của tinh đối với vũ trụ và con người được nhấn mạnh rõ hơn: «Tinh của vạn vật ban cho chúng sự sống. Ở dưới đất thì tinh sinh ra ngũ cốc; ở trên trời thì tinh là la liệt tinh tú. Khi lưu chuyển giữa trời đất, tinh được gọi là quỷ thần. Khi tàng chứa nơi ngực của con người, tinh được gọi là thánh nhân.»
Vì rằng khí và tinh chuyển hóa nhau nên tôi thấy không cần tiếp tục khai triển vấn đề này. Porkert cũng nhận thấy: «Tinh hóa thành khí (Tinh hóa vi khí 精化為氣).» và «Khí hóa thành tinh (khí hóa vi tinh 氣化為精).»
Hai câu trên đưa đến kết luận rằng vũ trụ và thân thể con người được tạo thành bằng những chất liệu giống nhau. Nhưng điều này chưa thể dẫn đến kết luận rằng Chư thần trong nhân thể phát sinh từ cơ sở của các giả thiết trên, mà điều này chỉ dẫn đến quan niệm về sự thống nhất giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ. Về khía cạnh này, Phó Cần Gia đã bảo: «… tức là tạng phủ đều có thần. Theo Đạo giáo, con người được xem là một tiểu thiên địa, cho nên thần trong trời đất đều hiện hữu trong thân thể con người chúng ta.»
Phó Cần Gia chỉ nêu ra mà không giải thích điều này. Tôi muốn thử chỉ ra mối liên hệ giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ và thử giải thích Chư thần trong thân thể con người đã phát sinh như thế nào.
Thiên Thiên văn huấn 天文訓 trong Hoài Nam Tử đã giảng: «Các khiếu (lỗ) và tứ chi của nhân thể đều có liên hệ với trời. Trời có cửu trùng (trung ương và 8 hướng) thì người có cửu khiếu. Trời có bốn mùa để bố trí thứ tự 12 tháng thì người có tứ chi để điều khiển 12 quan tiết. Trời có 12 tháng để xếp thứ tự 360 ngày thì người có 12 quan tiết để điều khiển 360 lóng xương và khớp xương. Cho nên khi làm việc mà ai không thuận theo trời tức là đi ngược lại sự sống của bản thân.»
Thiên Tinh thần huấn 精神訓 trong Hoài Nam Tử còn giảng chi tiết hơn về sự thống nhất giữa trời và người: «Cho nên đầu tròn tượng trưng trời, chân vuông tượng trưng đất. Trời có bốn mùa, ngũ hành, cửu giải, 360 ngày; người cũng có tứ chi, ngũ tạng, cửu khiếu, 360 lóng xương. Trời có gió, mưa, lạnh, nóng; người cũng có tiếp nhận, cho tặng, vui vẻ, giận dữ. Thế nên, mật là mây, phổi là khí, gan là gió, thận là mưa, tỳ là sấm, để người cùng kết hợp với trời đất.»
Bên cạnh những «đức tính» của trời, sự phân chia bầu trời thành từng vùng cũng phóng rọi vào con người. Rõ rệt nhất là thí dụ về nhật nguyệt và các hành tinh. Chúng không chỉ được xem là các hiện tượng thiên nhiên mà còn được xem là hệ thống thứ tự các thiên quan 天官. Theo Karlgren, chữ quan 官 này là: «Nơi công thự, công sở (official’s residence, office); chức việc hành chánh (public charge); quan lại (official, officer); chức vụ (function), thi hành chức năng (to function).»
Lời chú của Sách ẩn 索隱 về thuật ngữ thiên quan 天官 nơi quyển 27 (Thiên quan thư 天官書) của Sử Ký Tư Mã Thiên đã giải rằng: «Thiên văn có 5 quan. Quan tức là tinh quan. Chòm sao (tinh tòa) có tôn ti, nên những quan nơi con người cũng có địa vị khác nhau. Thế gọi là thiên quan.»
Trong tác phẩm Tuân Tử 荀子, các thiên quan được chuyển sang cho con người: «Chức vụ của trời đã xác lập, công việc của trời đã thành, hình đủ thì thần sinh. Ưa, ghét, mừng, giận, thương, vui được chứa cả trong đó, thế gọi là thiên tình 天情 (tình cảm tự nhiên được trời phú bẩm). Tai, mắt, miệng, mũi, hình thể đều có thể giao tiếp với bên ngoài nhưng không thể thay thế nhau, thế gọi là thiên quan 天官. Tâm ở giữa, hư tĩnh, để làm chủ ngũ quan, thế gọi là thiên quân 天君.»
Quan niệm tương tự trên đây cũng thấy xuất hiện nơi chương 13 của Quản Tử: «Trong thân thể con người, tâm là chủ tể. Nhiệm vụ của cửu khiếu là thể hiện các chức năng biệt lập của các quan năng. Tai và mắt là các giác quan để nghe và nhìn.»
Các quan niệm trên được Lương Khâu Tử 梁邱子 lập lại trong Huỳnh Đình Ngoại Cảnh: «Mắt trái là mặt trời (thái dương); mắt phải là mặt trăng (thái âm).»
Trong Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn 黃帝內經素問, 12 bộ phận cơ thể được mô tả chi tiết là 12 quan: «Tâm là cơ quan của vua chúa, là nơi thần minh xuất ra. Phổi là cơ quan của đại tướng, ban ra sự trật tự và điều tiết. Gan là cơ quan của tướng quân, đề ra chiến lược và kế hoạch. Mật là cơ quan trung chính, cho ra sự quyết đoán. Trong lồng ngực là cơ quan của thần sứ, phát ra vui vẻ sung sướng. bao tử và lá lách là kho lúa gạo, phát ra năm vị. Ruột già là cơ quan truyền đi vật uế tạp, biến hóa chúng. Ruột non là cơ quan nhận lấy nhiều tạp chất để đưa vào ruột già, biến hóa chúng. Thận là cơ quan làm việc mạnh mẽ, phát sinh kỹ xảo. Tam tiêu là cơ quan dẫn lối âm dương khai thông ngòi nước cho khỏi bế tắc, nước từ đó thoát ra. Bàng quang (bọng đái) là cơ quan quản lý thủ đô và châu quận, nước tàng chứa ở đây.»
Những thí dụ ít ỏi trên đây đã minh xác rằng: trên cơ sở là sự thống nhất giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ, các thiên quan trên trời cũng hiện hữu dưới đất và nơi thân thể con người.
Thiên quan, tức là các tinh tú, là nơi thần minh cư ngụ: «Nơi cung giữa là sao Thiên cực, là nơi sáng nhất, vốn là nơi thường trú của thần Thái Nhất.»
Vì thiên quan có thần minh cư ngụ, nên thiên quan tương ứng ở con người cũng có thần minh cư ngụ. Quản Tử nói: «Có thần trú nơi thân thể con người, thần có lúc cũng đi, có lúc cũng đến. Nhưng không ai biết được điều này. Khi mất thần, con người mê loạn.»
Quan niệm cụ thể về nhân thân Chư thần đã thấy vào đời Hán, qua lời chú của Hà Thượng Công về «Cốc thần» 谷神 trong Lão Tử Đạo Đức Kinh: «Cốc là nuôi dưỡng. Nếu con người có thể nuôi dưỡng thần thì họ sẽ bất tử. Thần đây là thần của ngũ tạng. Thần của gan là hồn 魂, thần của phổi là phách 魄, thần của tim là thần 神, thần của thận là tinh 精, thần của tỳ là chí 志, ngũ tạng bị thương tổn hết thì năm thần này xuất ra khỏi nhân thể.»
Sự liên hệ ngũ tạng với ngũ thần (gan-hồn, phổi-phách, tim-thần, thận-tinh, tỳ-chí) được nêu ra trên đây cũng tương đồng với quan niệm của y học Trung Quốc.
Thần của ngũ tạng có liên hệ mật thiết với thần của bốn mùa và thần của ngũ hành. Thái Bình Kinh 太平經 có nói như vậy, nhưng không kể chi tiết tên của các vị thần này: «Thần của bốn mùa và thần của ngũ hành khi nhập vào thân thể con người thì thành Chư thần của ngũ tạng, khi xuất ra thì trở thành thần của bốn mùa và thần của ngũ hành.»
Thái Bình Kinh cũng nói như vậy ở một đoạn khác: «Khí của bốn mùa và ngũ hành nhập vào bụng của con người thì sinh ra Chư thần của ngũ tạng, có màu sắc tương ứng với màu sắc của bốn mùa và trời đất.»
Chư thần (ở đây gọi là «kỵ thần» 騎神) của trung ương và bốn phương hướng được mô tả trong Thái Bình Kinh như sau: «Kỵ thần hướng đông cầm cây mâu, kỵ thần hướng nam cầm cây kích, kỵ thần hướng tây cầm cung nỏ và cái rìu, kỵ thần hướng bắc cầm cái thuẫn mạ vàng và cây đao, kỵ thần trung ương cầm kiếm và cái trống. Khi nghĩ đến các vị thần này thì trước tiên hãy nhìn vào Chư thần trong thân mình (nội thần) và hãy nhìn Chư thần bên ngoài mình (ngoại thần); hoặc trước tiên nhìn dương thần, sau đó nhìn nội thần.»
Những quan niệm xuyên qua ít ví dụ nêu trên đã được khai triển rộng hơn vào đời Đông Hán: Số lượng Chư thần trong nhân thể phát triển đến 36000 vị; những vị thần quan trọng nhất được mô tả cụ thể về danh xưng, chức vụ, vóc dáng, y phục. Maspero đã viết rõ: «Thực sự toàn thân con người tràn ngập thần linh. Không những mỗi đan điền, mỗi tạng, mỗi phủ đều có ít nhiều thần linh mà mọi cơ quan hay nói đơn giản là mọi thứ có vẻ có nhân tính đều hình thành một thực thể biệt lập, như mắt, tai, tóc, v.v. Mỗi vị thần này đều có tên họ, biệt hiệu, tước vị. Thần có y phục, nơi cư ngụ, chức nghiệp, và vai trò trong sự hài hòa chung của sự sống của thân thể đó.»
Có nhiều phương hướng khác nhau trong sự phát triển Chư thần trong nhân thể: «Nhưng trong tất cả Chư thần trong nhân thể này, người ta phân biệt ngay hai loại khác nhau: một loại đơn thuần liên quan các bộ phận của thân người (ordre purement physiologique)… và một loại thần liên quan đến bản thể vũ trụ (ordre ontologique).»
Loại thần thứ hai này phân làm hai nhóm: một nhóm ứng với 24 khí tiết và một nhóm được tạo sinh theo cửu thiên 九天.
Trong loại thần liên quan đến các bộ phận của thân thể con người (die physiologischen Gottheiten), ta thấy có 7 vị thần đầu, 5 vị thần của ngũ tạng, và 6 vị thần của lục phủ. Đại Đỗng chân kinh 大洞真經 còn đặc biệt phát triển tiếp số Chư thần này: từng bộ phận được ấn định có thêm nhiều vị thần nữa. Nhưng số Chư thần được nêu ra trong Đại Đỗng chân kinh thì khác xa với số Chư thần được nêu trong các đạo thư hay đạo kinh tương tự về sau đến nỗi người ta không thể suy đoán được. Để minh họa điều này, tôi trích dẫn Lão Tử Trung Kinh 老子中經: «8 vị thần phổi (phế thần) là Thái Hòa Quân 太和君, tên gọi [ở] phủ Thượng Thư 尚書 của Ngọc Chân Cung 玉真宮. Các quan tùy tùng có 3600 người, cỡi chiếc xe bằng khí mây trắng, do bạch hổ kéo hoặc họ cỡi bạch long (rồng trắng). 9 vị thần tim (tâm thần) là Thái Úy Công 太尉公, gọi là Nguyên Quang 元光, Thái Thủy Nam Cực Lão Nhân 太始南極老人, ở Giáng Cung 絳宮. Các quan tùy tùng có 3600 người, cỡi chiếc xe bằng khí mây đỏ; chim đỏ tạo thành cái lọng trên xe, rắn đỏ làm thành tay nắm. Xe do chim đỏ kéo hoặc họ cỡi xích long (rồng đỏ.) 7 vị thần gan (can thần) là Lão Tử Quân 老子君, tên gọi [ở] phủ Lan Đài 蘭臺 của Minh Đường Cung 明堂宮. Các quan tùy tùng có 3600 người, cỡi chiếc xe bằng khí mây xanh, do rồng xanh kéo hoặc họ cỡi nai trắng. 5 vị thần mật (đảm thần) là Thái Nhất Đạo Quân 太一道君, cư ngụ nơi Tử Phòng Cung 紫房宮. Họ cỡi chiếc xe bằng khí mây màu ngọc, trên có cái lọng che ngũ sắc, do 6 con rồng bay kéo. Các quan tùy tùng có 3600 người.»
Về Chư thần khác của đầu và các bộ phận trong thân, Lão Tử Trung Kinh còn cho những chi tiết tương tự.
Loại thần liên quan đến bản thể vũ trụ (ontologische Gottheiten) tương ứng với 24 khí tiết được Maspero mô tả như sau: «Một nhóm thần nổi tiếng khác là 24 thần (nhị thập tứ thần) mà mỗi vị cùng một lúc vừa cai quản một bộ phận trong thân thể con người vừa ứng với 24 khí tiết. Nơi thân thể con người (=tiểu vũ trụ), 24 khí tiết là 24 vòng tròn chồng lên nhau, phân đều từ đỉnh đầu xuống lòng bàn chân; và trong đại vũ trụ, chúng là 24 nửa tháng dương lịch do một năm được chia ra, sao cho tiết Hạ Chí là ngay đỉnh đầu, tiết Thu Phân và Xuân Phân là ngay rốn, và tiết Đông Chí là ở bàn chân.»
Sự phân loại thông thường nhất là 3×8=24 thần căn cứ vào 3 bộ (tam bộ 三部 = đầu, ngực, bụng) của thân thể con người. Mỗi bộ có 8 cảnh thần.
Thượng bộ bát cảnh thần 上部八景神 gồm có:
1. Thần não (não thần 腦神) tên Giác Nguyên Tử 覺元子, tự Đạo Đô 道都;
2. Thần tóc (phát thần 髮神) tên Huyền Phụ Hoa 玄父華, tự Đạo Hành 道衡;
3. Thần da (bì phu thần 皮膚神) tên Thông Chúng Trọng 通眾仲, tự Đạo Liên 道連;
4. Thần mắt (mục thần 目神) tên Linh Giám Sinh 靈監生, tự Đạo Đồng 道童;
5. Thần tủy ở cổ (hạng tủy thần 項髓神) tên Linh Mạc Cái 靈膜蓋, tự Đạo Chu 道周;
6. Thần xương sống (lữ thần 膂神) tên Ích Lịch Phụ 益歷輔, tự Đạo Trụ 道柱;
7. Thần mũi (tỵ thần 鼻神) tên Trọng Long Ngọc 仲龍玉, tự Đạo Vi 道微;
8. Thần lưỡi (thiệt thần 舌神) tên Thủy Lương Trĩ 始梁峙, tự Đạo Kỳ 道岐.
Trung bộ bát cảnh thần 中部八景神 gồm có:
1. Thần yết hầu (hầu thần 喉神) tên Bách Lưu Phóng 百流放, tự Đạo Thông 道通;
2. Thần phổi (phế thần 肺神) tên Tố Linh Sinh 素靈生, tự Đạo Bình 道平;
3. Thần tim (tâm thần 心神) tên Hoán Dương Xương 煥陽昌, tự Đạo Minh 道明;
4. Thần gan (can thần 肝神) tên Khai Quân Đồng 開君童, tự Đạo Thanh 道清;
5. Thần mật (đảm thần 膽神) tên Đức Long Câu 德龍拘, tự Đạo Phóng 道放;
6. Thần thận trái (tả thận thần 左腎神) tên Xuân Nguyên Chân 春元真, tự Đạo Khanh 道卿;
7. Thần thận phải (hữu thận thần 右腎神) tên Tượng Tha Vô 象他無, tự Đạo Ngọc 道玉;
8. Thần tỳ (tỳ thần 脾神) tên Bảo Nguyên Toàn 寶元全, tự Đạo Khiên 道騫.
Hạ bộ bát cảnh thần 下部八景神 gồm có:
1. Thần bao tử (vị thần 胃神) tên Đồng Lai Dục 同來育, tự Đạo Triển 道展;
2. Thần ruột cùng (cùng trường thần 窮腸神) tên Triệu Đằng Khang 兆騰康, tự Đạo Hoàn 道還;
3. Thần ruột già và ruột non (đại tiểu trường thần 大小腸神) tên Bồng Tống Lưu 蓬送留, tự Đạo Trù 道廚;
4. Thần trong ruột (động trung thần 胴中神) tên Thụ Hậu Bột 受厚勃, tự Đạo Hư 道虛;
5. Thần hoành cách mô (hung cách thần 胸膈神) tên Quảng Anh Trạch 廣英宅, tự Đạo Trung 道中;
6. Thần hai hàng xương sườn (lưỡng lặc thần 兩肋神) tên Tịch Giả Mã 辟假馬, tự Đạo Thành 道成;
7. Thần tả dương (tả dương thần 左陽神) tên Phù Lưu Khởi 扶流起, tự Đạo Khuê 道圭;
Tên 28 vị thần này không thống nhất với tên các thần thuộc nhóm liên quan các bộ phận của thân người (physiologische Gottheiten) [đã kể trong Lão Tử Trung Kinh].
Chư thần liên quan bản thể vũ trụ (ontologische Gottheiten) tương ứng với Cửu thiên 九天 đã bắt nguồn từ một thuyết của Trung Quốc về sự sáng thế: «Cửu thiên có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng thế giới và cửu thiên sinh trưởng trong thân người.»
Cửu thiên ở đây là 9 khí hình thành thế giới. Các khí này bắt nguồn từ nguyên khí 元氣. Trước tiên nguyên khí phân làm 3 khí, rồi phân thành 9 khí: «Cửu khí biến đổi một loạt . Mặt trời, mặt trăng, tinh tú, âm dương, ngũ hành, đều tiếp nhận sự sống từ cửu khí.»
Trong thân thể con người, cửu khí hay cửu thiên thể hiện ra là cửu cung 九宮. Cửu cung tọa lạc nơi mỗi ba bộ phận. Cửu cung nơi thượng bộ (=đầu) thường được mô tả chi tiết, còn cửu cung nơi trung bộ (=mình) và hạ bộ (=phần dưới) thì chưa được biết rõ. Chỉ trong một văn bản duy nhất sau đây là Thượng Dương Tử Kim đan đại yếu 上陽子金丹大要, tôi tìm thấy sự mô tả chi tiết về cửu cung ở trung bộ: «Tim (nơi thần cư ngụ) là Giáng tiêu cung 絳霄宮. Thận (nơi thần cư ngụ) là Đan nguyên cung 丹元宮. Gan (nơi thần cư ngụ) là Lan đài cung 蘭臺宮. Phổi (nơi thần cư ngụ) là Thượng thư cung 尚書宮. Tỳ (nơi thần cư ngụ) là Huỳnh đình cung 黃庭宮. Mật (nơi thần cư ngụ) là Thiên hoằng cung 天霐宮. Ruột non (nơi thần cư ngụ) là Huyền linh cung 玄靈宮. Ruột già (nơi thần cư ngụ) là Mộc linh cung 木靈宮. Bàng quang (nơi thần cư ngụ) là Ngọc phòng cung 玉房宮.»
Văn bản đời Nguyên trên đây rõ ràng là một cố gắng muộn màng nhằm hệ thống hóa cửu cung nơi trung bộ thân người. Qua sự tổng kết các cơ quan của trung bộ và hạ bộ nhưng lược bỏ cửu cung nơi hạ bộ, sự cố gắng này không có giá trị gì.
Huỳnh Đình Kinh có sự đặc biệt: với tư cách làmột đạo kinh xưa nhất nói về Chư thần trong thân thể con người, kinh này dung chứa cả ba sự khai triển đã nêu trên đây. Trọng tâm của sự mô tả này là Chư thần liên quan đến các bộ phận trong thân người (physiologische Gottheiten). Trong Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh, thần ở đầu được liệt kê danh tính ở chương 7 (Chí đạo 至道) và các thần ngũ tạng được liệt kê danh tính ở chương 8 (Tâm thần 心神), nhưng các thần lục phủ thì không kể danh tính ra. Gần phân nửa của Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh mô tả tỉ mỉ nhất về Chư thần ngũ tạng.
Ở đây tôi muốn nêu ra một sự khai triển đặc biệt các thần lục phủ theo quan niệm đời Tống: «Theo một quyển sách khuyết danh tác giả vào đời Tống đã minh họa, mỗi phủ trong lục phủ của thân người được cho rằng có động vật cư ngụ. Hổ trắng ở phổi, rắn và rùa ở mật, rồng ở gan, phượng hoàng ở tỳ, chim đỏ ở tim, nai hai đầu ở thận.»
Thần gan có hình rồng
|
Thần mật có hình rắn và rùa
| ||
Thần phổi có hình hổ trắng
|
Thần tim có hình chim đỏ
|
Thần thận có hình nai hai đầu
| |
Ở đây danh xưng Chư thần ngũ tạng nêu trong Huỳnh Đình Kinh được mô tả thêm hình dáng qua sự trình bày của Hồ Âm 胡愔 trong Huỳnh Đình Nội Cảnh Ngũ Tạng Lục Phủ Đồ 黃庭內景五臟六腑圖.
Nhóm Chư thần tương ứng với 24 tiết khí được mô tả như sau trong Huỳnh Đình Nội Cảnh chương 23: «Phép đối trị sự sống thật đơn giản: chỉ cần học theo sách Động Huyền [của Lão Quân] và sách Ngọc Thiên (tức Huỳnh Đình Kinh). Ngoài ra, trong thân hình có bát cảnh thần [ở mỗi bộ trên, giữa, dưới], thống nhiếp khí toàn thân thì 24 vị thần này hiện ra.»
Sự giải thích Chư thần liên quan đến 24 tiết khí không phải duy nhất chỉ có ở sách này. Chẳng hạn Lãnh Khiêm 泠謙 trong Huỳnh Đình Kinh Bí Nghĩa đã giảng rằng bát cảnh tương ứng với bát quái tức là 8 quẻ cơ bản để hình thành 64 quẻ kinh Dịch. Còn 24 chân nhân ứng với 24 hào âm và dương của bát quái. Ngoài ra người ta cũng có thể giải 24 chân nhân này ứng với 24 tiếng đồng hồ của một ngày (bát cảnh thần ứng với 8 tiếng, nhân với 3 [sáng, chiều, tối] là 24 thần).
Về các thần tương ứng với cửu cung của trời, chương 7 của Nội Cảnh đã viết: «Chư thần nơi mặt đều lấy nê hoàn làm tông chủ, [trời có cửu cung mà người cũng thế] nên nê hoàn [ở trung cung] và 8 cung xung quanh đều có 9 vị thần.»
Đến đây, vấn đề vẫn còn chưa giải quyết xong: Chư thần trong thân thể con người để phục vụ mục đích gì?
Theo quan niệm của Thái Bình Kinh, khi Chư thần tồn tại trong thân người mà không bị thương tổn thì con người ta khỏe mạnh, nếu Chư thần rời bỏ thân ta thì ta bệnh hoạn và chết: «Cho nên thần gan đi mất mà không trở về thân ta, thì mắt ta không sáng.
Khi thần tim đi mất thì môi ta xanh tái.
Khi thần phổi đi mất thì mũi ta bị nghẹt.
Khi thần thận đi mất thì tai ta điếc.
Khi thần tỳ đi mất thì miệng ta không cảm nhận được vị ngọt.
Khi thần đầu đi mất thì ta mắt ta tối sầm.
Khi thần bụng đi mất thì bao tử ta rối loạn, không thể tiêu hóa thực phẩm.
Khi thần tứ chi đi mất thì ta không thể cử động và di chuyển được.»
Tuy nhiên, khi Chư thần vẫn tồn tại trong thân thể con người thì, theo Thái Bình Kinh mô tả, người ta sẽ có tình trạng như sau: «Khi Chư thần tồn tại trong thân thể ta, ta sẽ cảm thấy tươi vui, sẽ cảm thấy hạnh phúc và không truy cầu tài bảo hay ganh đua với đời. Vì không ham danh lợi, sau một thời gian dài, ta sẽ trông thấy hình ảnh chư thần.»
Sau đó, điều quan trọng đối với sức khỏe con người chính là tam trùng 三蟲 – kẻ thù tự nhiên của con người cũng như của nhân thân Chư thần – sẽ bị tiêu diệt thông qua sự hành khí và phục thực đúng đắn. Tam trùng cư ngụ nơi ba bộ phận của con người.
Kaltenmark viết: «Thượng trùng tấn công mắt và gây tai hại cho đầu. Trung trùng hại bụng và ruột. Hạ trùng gây bệnh thận, làm cạn tinh tủy, làm khô xương, gây thiếu máu.»
Tam trùng được mô tả tỉ mỉ chi tiết và sinh động trong Thái Thượng Trừ Tam Thi Cửu Trùng Bảo Sinh Kinh 太上除三尸九蟲保生經: «Thượng trùng Bành Cư 彭琚 có tên trẻ con là A Ha 阿呵 ở trong đầu con người. Nó tấn công nê hoàn tức thượng đan điền, khiến cho người ta cảm thấy nặng đầu, mắt tối sầm, khóc chảy nước mũi, tai điếc, răng rụng, miệng hôi, khuôn mặt nhăn nheo. Nó làm con người mê loạn, yêu thích xe ngựa, say mê âm nhạc và nữ sắc… Trung trùng Bành Chất 彭質 có tên trẻ con là Tác Tử 作子, yêu thích ngũ sắc và ngũ vị. Nó cư ngụ nơi tim và bao tử con người. Nó tấn công tử cung (cung màu đỏ) và trung tiêu, khiến con người nhầm lẫn và mất trí nhớ. Nó làm giảm tinh. Khi khí sinh ra, tai họa đến. Mặt khác, nó gây sầu não. Khi âu lo thái quá, miệng khô, mắt trắng, răng sâu. Ngày đêm nó làm hại lục phủ ngũ tạng. Nó gây ra bệnh tật. Do nó mà người ta ngủ nhiều và thấy ác mộng… Hạ trùng Bành Kiểu 彭矯 có tên trẻ con là Lý Tế 李細, cư ngụ nơi bụng và chân con người. Nó làm hại khí hải đến nỗi khô cạn và làm cho bách bệnh sinh ra. Nó xúi con người trộm cướp, ham mê nữ sắc, danh vọng, và ham mê trụy lạc, gây tác hại. Người ta không thể cản được nó làm hại sinh mệnh của họ. Nó khiến con người kết hợp với ma quỉ, quay lưng với cuộc sống, cận kề cái chết, cạn kiệt tinh khí. Nó làm khô tủy, cơ bắp đau nhức, thịt nóng hực, ý chí bạc nhược, thân thể trống rỗng, mông nặng nề, bàn chân và đầu gối rã rời. Nước tiểu và xú khí thoát ra, và dần dần tai họa đến…»
Tam thi (tam trùng) 三尸 (三蟲)
Tam trùng đã xuất hiện từ đời Đông Hán, như trong tác phẩm Luận Hành 論衡 của Vương Sung 王充 đã chép: «Người ta có tam trùng trong ruột. Côn trùng sống nơi đầm lầy gọi là con đỉa. Chúng ăn chân người, còn ở con người thì tam trùng ăn ruột.»
Về sau, do ảnh hưởng của thuyết về Chư thần tương ứng với cửu thiên, người ta lại phân biệt xa hơn nữa là Tam Thi Cửu Trùng (cũng là kẻ thù của con người). Về cửu trùng thì Thái Thượng Trừ Tam Thi Cửu Trùng Bảo Sinh Kinh cũng đã mô tả sinh động.
Chư thần trong thân thể con người là đối tượng của tĩnh tọa, gọi là nội quán 內觀: «Nội quán cũng cho phép người ta nhìn thấy các thần trong thân thể… Nhiều đạo kinh đã mô tả chính xác Chư thần này, nêu ra danh tánh của thần và thường cho biết hình dáng của thần để dễ nhìn thấy và giao tiếp với thần.»
Tuy Chư thần theo quan niệm của Đạo giáo là có cung điện cả trên trời lẫn dưới đất, nhưng Chư thần không thường trú nơi đó, mà luôn dạo chơi khắp nơi, nên thật là khó khăn cho các đạo sĩ được giao tiếp với chư thần. Điều đó cũng là một điều thực dễ dàng khi đạo sĩ luôn có khả năng giao tiếp Chư thần nhờ tham thiền nội quán Chư thần trong thân thể, mà các vị này tương ứng với Chư thần trên trời.
Tóm tắt Chư thần nơi ba bộ vị của thân thể
I. Thượng bộ 上部 của thân thể:
a/ Chư thần liên quan các bộ phận thân thể theo Huỳnh Đình Kinh:
1– Thần Tóc = Thương Hoa 蒼華
2– Thần Trán = Tinh Căn 精根
3– Thần Mắt = Minh Thượng 明上
4– Thần Mũi = Ngọc Lũng 玉壟
5– Thần Tai = Không Nhàn 空閑
6– Thần Lưỡi = Thông Mệnh 通命
7– Thần Răng = Ngạc Phong 崿鋒
b/ Chư thần liên quan 24 khí tiết (Đạo Tạng 1051/W1388: 洞玄靈寶二十四生圖經 Động Huyền Linh Bảo Nhị Thập Tứ Sinh Đồ Kinh)
1– Thần Tóc = Huyền Phụ Hoa 玄父華
2– Thần Trán = Giác Nguyên Tử 覺元子
3– Thần Mắt = Hư Giám 虛監
4– Thần Mũi = Trọng Long Tử 仲龍子
5– Thần Lưỡi = Thủy Lương Trĩ 始梁峙
6– Thần Da = Thông Tượng Trọng 通象仲
7– Thần Tủy xương sống = Linh Mô Cái 靈謨蓋
8– Thần Xương sống = Ích Lịch Chuyển 益歷轉
c/ Chư thần liên quan cửu cung:
1- Chư thần cung Minh Đường 明堂: ở giữa là Minh Kính Thần Quân 明鏡神君; bên trái là Minh Đồng Chân Quân 明童真君; bên phải là Minh Nữ Chân Quân 明女真君.
2- Chư thần cung Động Phòng 洞房: ở giữa là Hoàng Lão Quân 黃老君; bên trái là Nguyên Anh Quân 元英君; bên phải là Nguyên Bạch Quân 元白君.
3- Chư thần cung Nê Hoàn 泥丸: bên trái là Thượng Nguyên Xích Tử 上元赤子; bên phải có Đế Hương 帝鄉 (chỉ có 2 thần đồng cư).
6- Chư thần cung Thiên Đình 天庭: Thượng Thanh Chân Nữ 上清真女
7- Chư thần cung Cực Chân 極真: Thái Cực Đế Phi 太極帝妃.
9- Chư thần cung Thái Hoàng 太皇: Thái Thượng Quân Hậu 太上君后.
II. Trung bộ 中部 của thân thể:
a/ Chư thần liên quan các bộ phận thân thể theo Huỳnh Đình Kinh:
1– Thần Tim = Đan Nguyên 丹元
2– Thần Phổi = Hạo Hoa 皓華
3– Thần Gan = Long Yên 龍湮
4– Thần Thận = Huyền Minh 玄明
5– Thần Tỳ = Thường Tại 常在
6– Thần Mật = Long Diệu 龍曜
b/ Chư thần liên quan 24 khí tiết (theo Đạo Tạng 1051/W1388: Động Huyền Linh Bảo Nhị Thập Tứ Sinh Đồ Kinh 洞玄靈寶二十四生圖經)
1– Thần Tim = Hoán Dương Xương 煥陽昌
2– Thần Phổi = Tố Linh Sinh 素靈生
3– Thần Gan = Khai Quân Đồng 開君童
4– Thần Thận trái = Xuân Nguyên Quân 春元君
5– Thần Thận phải = Tượng Tha Vô 象他無
6– Thần Tỳ = Bảo Vô Toàn 寶無全
7– Thần Mật = Long Đức Câu 龍德拘
8– Thần Cuống họng = Bách Lưu Phóng 百流放
c/ Chư thần liên quan cửu cung: (không có)
III. Hạ bộ 下部 của thân thể:
a/ Chư thần liên quan các bộ phận thân thể theo Huỳnh Đình Kinh:
– Thần Mật = Long Diệu 龍曜
b/ Chư thần liên quan 24 khí tiết (theo Đạo Tạng 1051/W1388: Động Huyền Linh Bảo Nhị Thập Tứ Sinh Đồ Kinh 洞玄靈寶二十四生圖經)
1– Thần Bao Tử = Đồng Lai Dục 同來育
2– Thần Ruột già ruột non = Bồng Tống Lưu 蓬送留
3– Thần Ruột thừa = Phi Đằng Khang 非騰康
4– Thần Đầu ruột = Thụ Hậu Bột 受厚勃
5– Thần Cách (Zwerchfell: diaphragm: cơ hoành) = Quảng Anh Trạch 廣瑛宅
6– Thần Mông = Tịch Giả Mã 辟假馬
7– Thần Tả dương = Phù Lưu Khởi 扶流起
8– Thần Hữu âm = Bao Biểu Minh 包表明
c/ Chư thần liên quan cửu cung: (không có)
a/ Physiologische Gottheiten nach dem Huang-t’ing-ching: Chư thần liên quan các bộ phận thân thể theo Huỳnh Đình Kinh: 1– Thần Tóc (Haar) = Thương Hoa 蒼華, 2– Thần Trán (Gehirn) = Tinh Căn 精根, 3– Thần Mắt (Augen) = Minh Thượng 明上, 4– Thần Mũi (Nase) = Ngọc Lũng 玉壟, 5– Thần Tai (Ohren) = Không Nhàn 空閑, 6– Thần Lưỡi (Zunge) = Thông Mệnh 通命, 7– Thần Răng (Zähne) = Ngạc Phong 崿鋒.
b/ 24 Halbmonat-Gottheiten: Chư thần liên quan 24 khí tiết: 1– Thần Tóc (Haar) = Huyền Phụ Hoa 玄父華, 2– Thần Trán (Gehirn) = Giác Nguyên Tử 覺元子, 3– Thần Mắt (Augen) = Hư Giám 虛監, 4– Thần Mũi (Nase) = Trọng Long Tử 仲龍子, 5– Thần Lưỡi (Zunge) = Thủy Lương Trĩ 始梁峙, 6– Thần Da (Haut) = Thông Tượng Trọng 通象仲, 7– Thần Tủy xương sống (Mark der Nackenknochen) = Linh Mô Cái 靈謨蓋, 8– Thần Xương sống (Nackenwirbel) = Ích Lịch Chuyển 益歷轉.
c/ Neun-Himmel-Gottheiten: Chư thần liên quan cửu cung:
1– Cung Minh Đường 明堂 (Regierungshalle): Minh Đồng Chân Quân 明童真君; Minh Nữ Chân Quan 明女真官 [*]; Minh Kính Quân 明鏡君 [*].
2– Cung Động Phòng 洞房 (Grottenzimmer): Vô Anh Công Tử 無英公子 [*]; Bạch Nguyên Quân 元白君 [*]; Hoàng Lão Quân 黃老君.
3– Cung Nê Hoàn 泥丸 (Zinnoberfeld): Thượng Nguyên Xích Tử 上元赤子; Triệu Lặc Tinh 肇勒精 [*].
4– Cung Lưu Châu 流珠 (Fließende Perlen): Lưu Châu Chân Thần 流珠真神 [*].
5– Cung Ngọc Đế 玉帝 (Jade-Kaiser): Ngọc Thanh Thần Mẫu 玉清神母; Tam Tố Nguyên Quân 三素元君 [*].
6– Cung Thiên Đình 天庭 (Himmlische Halle): Thượng Thanh Chân Nữ 上清真女.
7– Cung Cực Chân 極真 (Äußerste Wahrhaftigkeit): Thái Cực Đế Phi 太極帝妃.
8– Cung Huyền Đan 玄丹 (Dunkles Zinnober): Không có tên (Name fehlt).
9– Cung Thái Hoàng 太皇 (Großer Erhabener): Thái Thượng Quân Hậu 太上君后.
II. Mittlere Abteilung = Trung bộ 中部 thân thể:
a/ Physiologische Gottheiten nach dem Huang-t’ing-ching = Chư thần liên quan các bộ phận thân thể theo Huỳnh Đình Kinh: 1– Thần Tim (Herz) = Đan Nguyên 丹元; 2– Thần Phổi (Lunge) = Hạo Hoa 皓華; 3– Thần Gan (Leber) = Long Yên 龍湮; 4– Thần Thận (Nieren) = Huyền Minh 玄明; 5– Thần Tỳ (Milz) = Thường Tại 常在; 6– Thần Mật (Galle) = Long Diệu 龍曜.
b/ 24 Halbmonat-Gottheiten: Chư thần liên quan 24 khí tiết: 1– Thần Tim (Herz): Hoán Dương Xương 煥陽昌. 2– Thần Phổi (Lunge): Tố Linh Sinh 素靈生; 3– Thần Gan (Leber): Khai Quân Đồng 開君童; 4– Thần Thận trái (linke Niere): Xuân Nguyên Quân 春元君; 5– Thần Thận phải (rechte Niere): Tượng Tha Vô 象他無; 6– Thần Tỳ (Milz): Bảo Vô Toàn 寶無全; 7– Thần Mật (Galle): Long Đức Câu 龍德拘; 8– Thần Cuống họng (Schlund): Bách Lưu Phóng 百流放.
c/ Neun-Himmel-Gottheiten: Chư thần liên quan cửu cung (không có)
III. Untere Abteilung des Körpers = Hạ bộ 下部 thân thể:
a/ Physiologische Gottheiten nach dem Huang-t’ing-ching: Chư thần liên quan các bộ phận thân thể theo Huỳnh Đình Kinh: 6 Nebeneingeweide (keine Namen der einzelnen Gottheiten): Lục phủ (không có tên của từng vị thần riêng lẻ), mit Ausnahme der Galle (ngoại trừ Đảm thần= Thần Mật (Galle): Long Diệu 龍曜).
b/ 24 Halbmonat-Gottheiten: Chư thần liên quan 24 khí tiết:
1– Thần Bao Tử (Bauch): Đồng Lai Dục 同來育;
2– Thần Ruột già ruột non (Dick-und Dünndarm): Bồng Tống Lưu 蓬送留;
3– Thần Ruột thừa (Darmansatz): Phi Đằng Khang 非騰康;
4– Thần Đầu ruột (Eingeweide): Thụ Hậu Bột 受厚勃;
5– Thần Cách (Zwerchfell: cơ hoành): Quảng Anh Trạch 廣瑛宅;
6– Thần Mông (Hüften): Tịch Giả Mã 辟假馬;
7– Thần Tả dương (linkes Yang): Phù Lưu Khởi 扶流起;
8– Thần Hữu âm (rechtes Yin): Bao Biểu Minh 包表明.