Chân lý theo Plato và Aristotle, những ý kiến được coi là "đúng" khi nào ý kiến đó khẳng định điều gì "có" thì thực sự "có", khẳng định "không có" thì thực sự là "không có". Còn ý kiến sẽ "sai" khi mà nêu ra "có" nhưng thực sự "không có" hoặc nêu "không có" trong khi thực sự là "có". Khi ý kiến "đúng" thì nó phải phù hợp với phương cách của sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên hay thực tại. Lúc đó ý kiến "đúng" sẽ được coi là chân lý.
Khái niệm chân lý dùng để chỉ những tri thức có nội dung phù hợp với thực tế khách quan; sự phù hợp đó đã được kiểm tra và chứng minh bởi thực tiễn.
Tóm lại chân lý là một sự thật của loài người luôn luôn đúng và tồn tại mãi mãi theo thời gian.
Mỗi ngày mỗi chúng ta đều vay mượn các thứ để sinh tồn, còn mượn là còn, hết mượn là mất. Những thứ vay mượn liệt kê đây là thứ chánh, những thứ phụ không thể kể ra hết được:
- không khí để thở
- đất, nước, gió, lửa cho thân thể vũ trụ sinh tồn
- đồ ăn thức uống nuôi dưỡng bản thân
- thân thể con người vay mượn từ cha mẹ
- kiến thức của thầy của bạn để biết
- học hỏi cũng chỉ là vay mượn của người chung quanh
- tâm suy nghĩ tưởng tượng là vay mượn các kiến thức bên ngoài
- địa vị, tiền bạc bằng sự suy tôn, vay trả của đời
- tiếng tăm nhờ sự tâng bốc của người khác
- vật chất của người khác làm cho mình hưởng dùng
- tư tưởng, ý kiến
- từ ngữ, lý luận, văn tự
- etc...
Nói tóm lại tất cả đều vay mượn của nhau, không có gì thuộc riêng về bất cứ người nào, tôn giáo nào. Phàm cái gì không do vay mượn tạm bợ, không do sự hỗ trợ bên ngoài, mà tự có riêng mới là thật.
Khi một người giảng thuyết về đạo đức, về luật nhân quả, về chân lý; người khác đem lập luận đạo đức, nhân quả, chân lý đó nói cho người thứ hai thứ ba nghe, ta không thể nào nói rằng người này đã ăn cắp tư tưởng ý kiến của người kia để nói. Tất cả đều nói lên chân lý, sự thật, cho dù người này không phát hiện ra điều đó, vẫn sẽ có người khác phát hiện ra điều đó không sớm thì muộn. Đó là nói theo thói đời.
Nói về đạo, rất nhiều người đem lập luận tôn giáo này ăn cắp lý luận nhà Phật để làm tôn giáo mới dụ dỗ người khác. Đạo chỉ có một nhưng có nhiều giáo lý, giảng giải, biện pháp, cách thức để cuối cùng có chung một mục đích là hướng thiện và nếu đi đến mục đích tối thượng là giải thoát. Đây chỉ nói đến những tôn giáo chánh nghĩa dẫn dắt con đường tốt đẹp, còn những tôn giáo làm bại hoại gia phong, đạo đức con người thì cũng miễn bàn ở đây.
Nhìn chung ngũ giáo đều giảng dạy điều hay lẽ phải, điều thiện ác cho chúng ta, và tùy theo từng thời kỳ, văn minh, phong tục thời đó mà có những phương pháp khác nhau. Những giáo điều của ngũ giáo là chân lý, là sự thật, là đạo lý làm người, giống nhau về mặt đạo đức, giáo hóa thuần phong mỹ tục để ngày càng tốt đẹp hơn.
Hậu nhân không thể nói giáo phái này bắt chước lý luận của nhà Phật để giáo hóa tín đồ, hay ngược lại. Tức là chân lý đó, lẽ phải đó, công bằng đó, nhân quả đó vốn sẵn hiện hữu, cho dù người này không phát hiện ra điều đó, vẫn sẽ có người khác phát hiện ra điều đó không sớm thì muộn.
Chính chư Phật quá khứ sau khi giác ngộ con đường, đã tán dương, tuyên thuyết con đường ấy cho chúng sanh thực hành, noi theo. Nhưng khi các ngài nhập diệt, Bát chánh đạo ấy cũng theo thời gian mà khuất lấp đi, chẳng còn ai biết đến để tu tập nữa. Đến thời Phật Thích Ca, do công hạnh ba-la-mật sâu dày, ngài đã vén mở con đường xưa cũ; đã phát hiện lại con đường, đã phát quang lại con đường. Như vậy chúng ta cũng không thể nói Đức Thế Tôn đã bắt chước lý luận của các vị tiền bối mà làm của riêng mình.
Đời sống con người luôn là một cuộc hành trình học hỏi, đi tìm, khám phá, xây dựng… để có được cuộc sống tốt hơn, cả tinh thần lẫn thể xác… Tựu trung, người ta đã chỉ ra được bốn mối tương quan chính:
- Tương quan với chính mình, giữa ta và ta;
- Tương quan với đồng loại;
- Tương quan với muôn loài thụ tạo;
- Tương quan với Trời.
Thành ngữ có câu: do not reinvent the wheel, có nghĩa đừng tốn công phí sức tìm kiếm những phát minh đã có người tìm ra trước đó rồi. Ví như có người phát minh ra xe hơi, những người đi sau cứ thế mà dùng các thứ phụ tùng để tạo nên chiếc xe đủ kiểu tuỳ thích, miễn sao chiếc xe đạt tiêu chuẩn có thế đưa bạn đến nơi mình muốn đến là được. Bạn không cần bắt đầu bằng cách tự tìm tòi làm sao phát minh ra chiếc xe như người đầu tiên, và người khác cũng không vì thế mà chê cười bạn bắt chước người đó, mặc dù bạn có thể có đủ khả năng để phát minh ra một chiếc xe hơi. Bởi nhân loại sống trong vũ trụ vốn dĩ có những sự tương quan mật thiết với nhau, cùng nương tựa nhau, cùng chia xẻ nhau trong nhiều lãnh vực rộng lớn. Một con người sống trên quả đất, nếu chỉ vựa vào tự mình không có tương tác giúp sức từ bất cứ ai hay bất cứ cái gì bên ngoài sẽ không thể nào tồn tại được.
Giáo lý có cạn có sâu, nhưng Đạo chỉ có một. Đạo là gốc, giáo là ngọn. Chân lý là một sự thật của loài người luôn luôn đúng và tồn tại mãi mãi theo thời gian, không phải vì người này nói thì chân lý mới đúng, còn qua miệng người khác thì chân lý bị sai. Vì vậy chúng ta nên tùy căn cơ của mình mà chọn cho mình con đường đi đúng nhất cho riêng mình. Không nên sanh tâm phân biệt, chia rẻ giáo này với giáo khác, không nên nói giáo này bắt chước giáo kia. Chỉ nên dùng trí phân biệt giáo lý đó giúp đời giúp người hay hại đời hại người. Xác định mục đích mình tu để làm gì là đủ (tu thân, tu tâm, tu phước, tu huệ, tu để làm người trở lại thế gian hưởng phước báu, tu để lên trời Khí thiên một thời gian rồi hết phước xuống lại trần gian, tu để về trời Lý thiên niết bàn để không còn luân hồi nữa, bạn tự quyết định cho mình vậy). Nếu tu để giải thoát luân hồi trong một đời này kiếp này thì chỉ có một chánh pháp duy nhất mà không thể truyền phép trên giấy được, dù đọc nát sách trong thiên hạ vẫn không có được Đạo, tốn công vô ích. Nếu không nương tựa vào chánh pháp nhãn tạng độc nhất vô nhị này, quá trình tu phước huệ để trở về Lý thiên niết bàn cần phải trải qua quá trình dài trong nhiều đời nhiều kiếp may ra mới có thể thành tựu được. Trên thế giới này không ai chứng đắc thành Phật vì chỉ do thông hiểu tất cả các kinh điển cả.
Đức Phật dạy trong một mật điển:
- Trong tất cả chư Phật đã đạt giác ngộ, không có một vị nào thành tựu việc này mà không nhờ một bậc thầy, và trong tất cả ngàn vị Phật sẽ xuất hiện trong đại kiếp này, không một vị nào sẽ đạt giác ngộ mà không nương tựa vào một bậc thầy.
Phật, danh từ Buddha, có một ý nghĩa sâu xa hơn nhiều. Nó có nghĩa là một con người, bất cứ người nào, đã hoàn toàn thức dậy từ giấc ngủ vô minh và mở mang tiềm năng trí tuệ bao la của mình. Một đức Phật là một người đã chấm dứt đau khổ và bất mãn, đã tìm ra một niềm bình an, hạnh phúc dài lâu bất tận. Nhưng đối với nhiều người trong thời đại hoài nghi này, thì trạng thái ấy có vẻ như một điều huyễn hoặc, mộng mị, hay một sự thành tựu hoàn toàn vượt ngoài tâm chúng ta. Điều quan trọng nên nhớ là, đức Phật đã từng là một con người như bạn và tôi. Ngài chưa từng tuyên bố là thần thánh gì cả, ngài chỉ biết ngài có Phật tính, hạt giống của giác ngộ, và mọi người cũng đều có. Phật tính là quyền sống của mọi chúng sinh, và tôi thường nói rằng Phật tính nơi chúng ta cũng tốt như Phật tính nơi bất cứ đức Phật nào.
“Ta muốn học Phật thì phải học với Phật Thích Ca Mâu Ni”, quan niệm này là mê tín. Phật Thích Ca Mâu Ni nói “bạn phải nương vào tự tánh của chính mình”, cho nên tự tánh Tam Bảo quan trọng hơn bất cứ thứ gì. Tự tánh giác, tự tánh chánh, tự tánh tịnh là tự tánh của chính bản thân mình.
Vì vậy đừng bao giờ chấp với tôn giáo khác "cái này không phải là Phật Thích Ca của tôi nói nữa".
Vì vậy đừng bao giờ chấp với tôn giáo khác "cái này không phải là Phật Thích Ca của tôi nói nữa".
Linh tánh của con người là chẳng có sự phân biệt quốc tịch, chủng tộc, môn phái tôn giáo. Sự phổ độ của Thiên Đạo cũng là siêu vượt những rào cản của thời gian, không gian, quốc tịch, chủng tộc, môn phái tôn giáo, bởi vì sự thù thắng của Thiên Đạo phổ độ ở chỗ Tam Tào phổ độ. Tam Tào Phổ độ có thể độ những người của thời cổ xưa, độ những người của thời hiện tại, độ những người phương đông, độ những người phương tây, độ các linh trên trời, độ các linh dưới đất, do đó mà Thiên Đạo phổ độ là siêu vượt thời gian, không gian.
Thiên đạo cũng chẳng có nhà cao cửa vách, chẳng có chỉnh đốn quy định giới hạn lẫn nhau mà tạo ra những kì thị và xung đột. Phải biết rằng “Đạo” chẳng phải là độc quyền chuyên thuộc của bất cứ pháp môn tôn giáo nào, “Đạo” là cái mà mỗi một người - bạn, tôi, anh ta vốn dĩ tự có, “Đạo” là cái mà chúng sanh khắp thiên hạ cùng sở hữu, cũng giống như Thượng Đế Hoàng Mẫu cũng là đấng mà chúng sanh, các phật tử khắp thiên hạ cùng có chung. Do đó chúng sanh cần phải hộ trì, truyền bố Tam Tào phổ độ mà Thượng Đế đã mệnh lệnh chúng ta phải bàn lí. Chúng sanh chính là vì “ chẳng biết ”, cho nên mới phải “ cầu đạo ”.
Cầu đạo chính là tìm về cái Chơn Ngã ( cái Tôi thật ) của sinh mệnh.
“ Cầu đạo ” chính là phải khôi phục trở về lại sự quang minh sáng ngời vốn có của linh tánh, cái linh tánh thanh tịnh, thuần chơn, thuần thiện, thuần mỹ.
“ Cầu đạo ” chính là tìm thấy con đường trở về Thiên Quốc.
Những điều nói ra đây cũng do vay mượn mà có được.
Tế Phật : Nhân duyên khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, tâm mỗi người hướng đến khác nhau, do đó ông trời rộng mở các thứ pháp môn, chỉ cần chơn tâm hướng đạo, chẳng có thiên kiến, tà hành, thì mỗi người có thành tựu của mỗi người, cuối cùng tất khác đường đồng quy ( phương pháp dùng đến tuy khác nhau, nhưng kết quả đắc được thì lại như nhau )
Dương Sinh : thế nhưng trước mắt thì các tôn giáo thường có những ngôn từ thuỷ hoả bất dung, bài xích lẫn nhau, tự xem mình cao, phê bình các giáo phái khác là ngoại đạo, cấp thấp … điều này nên giải thích như thế nào ?
Tế Phật : Đấy là do cái tâm ích kỉ tác quái của nhân loại mà ra. Lấy đại vũ trụ mà nói, nhân loại, vật loại mỗi loại đều có quyền lợi sinh tồn của chúng; lấy tôn giáo mà nói thì các giáo đều lấy sự giáo hoá làm tông chỉ, có tính trang nghiêm của nó; ở một người hiến thân trong tôn giáo thì nên ôm ấp mang cái tâm nguyện mở bệnh viện cứu người, chỉ tồn cái tâm cứu người giải khổ, chẳng nên bởi vì chủng loại tín ngưỡng có sự khác biệt mà cho ra những sự đãi ngộ khác nhau, nếu không thì bèn đánh mất đi tính thần thánh và lập trường nhân đạo của nó. Đáng tiếc là các tôn giáo thời nay vì để lôi kéo các tín đồ, giành giật giáo bàn, chỉ có một con đường đả kích tôn giáo khác, như thế chẳng tôn trọng các tôn giáo khác, xuất ngôn hoặc soạn sách huỷ báng, đều tự tạo ra tội nghiệp nhân ác, chẳng những khó thành chánh quả, lại còn phải đoạ xuống địa ngục chịu báo. Người tu đạo điều quan trọng nhất là ba nghiệp “ thân khẩu ý “; ba nghiệp có khiếm khuyết, tâm tánh bất bình thì vẫn là phàm phu, người học phật tu đạo không thể không cẩn thận lời nói và hành động.
...
Trích Kinh Mi Tiên vấn đáp:
139. Đức Thế Tôn là người khai sáng Đạo hay Đạo có sẵn từ ngàn xưa?
- Thưa đại đức! Đạo vốn có sẵn tự ngàn xưa phải chăng?
- Vâng, có tự ngàn xưa, do chư Phật quá khứ đã khai sáng, đã tìm ra.
- Thế sao Đức Thế Tôn của chúng ta lại nói rằng "Như Lai là người làm cho Đạo chưa phát sanh được phát sanh"? Vậy ra lời nói sau lại nghịch ngôn, mâu thuẫn với lời nói trước.
- Chẳng có hai lời sái nghĩa đâu, tâu đại vương! Đạo xưa ấy là nói về Bát chánh đạo, con đường có tám chi; đấy là con đường đi đến giải thoát, chấm dứt sinh tử luân hồi. Chính chư Phật quá khứ sau khi giác ngộ con đường, đã tán dương, tuyên thuyết con đường ấy cho chúng sanh thực hành, noi theo. Nhưng khi các ngài nhập diệt, Bát chánh đạo ấy cũng theo thời gian mà khuất lấp đi, chẳng còn ai biết đến để tu tập nữa. Đến thời Phật Thích Ca, do công hạnh ba-la-mật sâu dày, ngài đã vén mở con đường xưa cũ; đã phát hiện lại con đường, đã phát quang lại con đường, tu tập theo con đường, giác ngộ con đường... cho nên gọi là làm cho con đường được phát sanh! Lý nghĩa ấy thì có gì mâu thuẫn đâu, tâu đại vương?
- Thưa đại đức! Phát sanh là chưa có mà bây giờ lại có, lại sanh ra. Còn Đạo vốn là cái có sẵn nên không thể lập ngôn như vậy được!
- Đại vương nói rất có lý. Nhưng đại vương nghĩ thế nào trong trương hợp viên ngọc mani với đức Chuyển luân Thánh Vương? Phước đức của đức Chuyển luân Thánh Vương từ ngàn xưa có công năng làm cho ngọc mani xuất hiện, gọi là ngọc mani phát sanh đến cho đức Chuyển luân Thánh vương. Nhưng đến khi đức Chuyển luân Thánh vương mãn tuổi thọ, ngọc mani ấy cũng bị biến mất, đến trú ẩn nơi đỉnh núi Vikula. Nhiều đời sau, đức Chuyển luân Thánh vương khác lại ra đời trên thế gian, ngọc mani xuất hiện, lại tìm đến cho đức vua ấy. Thế có thể lập ngôn là ngọc Mani phát sanh đến cho đức Chuyển luân Thánh vương không hở đại vương?
- Có thể được.
- Nghĩa là đức vua ấy không thể tạo ra ngọc mani mà mani ấy vốn có sẵn?
- Đúng vậy.
- Chữ "phát sanh" mà Đức Thế Tôn dùng cũng nằm trong ngữ nghĩa ấy. Đức Thế Tôn không tạo ra Đạo mà Đạo vốn là có sẵn.
- Trẫm hiểu rồi.
...