Tuesday, June 13, 2017

Tất Cả Là Vay Mượn

Chân lý theo PlatoAristotle, những ý kiến được coi là "đúng" khi nào ý kiến đó khẳng định điều gì "có" thì thực sự "có", khẳng định "không có" thì thực sự là "không có". Còn ý kiến sẽ "sai" khi mà nêu ra "có" nhưng thực sự "không có" hoặc nêu "không có" trong khi thực sự là "có". Khi ý kiến "đúng" thì nó phải phù hợp với phương cách của sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên hay thực tại. Lúc đó ý kiến "đúng" sẽ được coi là chân lý.

Khái niệm chân lý dùng để chỉ những tri thức có nội dung phù hợp với thực tế khách quan; sự phù hợp đó đã được kiểm tra và chứng minh bởi thực tiễn.

Tóm lại chân lý là một sự thật của loài người luôn luôn đúng và tồn tại mãi mãi theo thời gian.

Mỗi ngày mỗi chúng ta đều vay mượn các thứ để sinh tồn, còn mượn là còn, hết mượn là mất. Những thứ vay mượn liệt kê đây là thứ chánh, những thứ phụ không thể kể ra hết được:

- không khí để thở
- đất, nước, gió, lửa cho thân thể vũ trụ sinh tồn
- đồ ăn thức uống nuôi dưỡng bản thân
- thân thể con người vay mượn từ cha mẹ
- kiến thức của thầy của bạn để biết
- học hỏi cũng chỉ là vay mượn của người chung quanh
- tâm suy nghĩ tưởng tượng là vay mượn các kiến thức bên ngoài
- địa vị, tiền bạc bằng sự suy tôn, vay trả của đời
- tiếng tăm nhờ sự tâng bốc của người khác
- vật chất của người khác làm cho mình hưởng dùng
- tư tưởng, ý kiến
- từ ngữ, lý luận, văn tự
- etc...

Nói tóm lại tất cả đều vay mượn của nhau, không có gì thuộc riêng về bất cứ người nào, tôn giáo nào. Phàm cái gì không do vay mượn tạm bợ, không do sự hỗ trợ bên ngoài, mà tự có riêng mới là thật.

Khi một người giảng thuyết về đạo đức, về luật nhân quả, về chân lý; người khác đem lập luận đạo đức, nhân quả, chân lý đó nói cho người thứ hai thứ ba nghe, ta không thể nào nói rằng người này đã ăn cắp tư tưởng ý kiến của người kia để nói. Tất cả đều nói lên chân lý, sự thật, cho dù người này không phát hiện ra điều đó, vẫn sẽ có người khác phát hiện ra điều đó không sớm thì muộn. Đó là nói theo thói đời.

Nói về đạo, rất nhiều người đem lập luận tôn giáo này ăn cắp lý luận nhà Phật để làm tôn giáo mới dụ dỗ người khác. Đạo chỉ có một nhưng có nhiều giáo lý, giảng giải, biện pháp, cách thức để cuối cùng có chung một mục đích là hướng thiện và nếu đi đến mục đích tối thượng là giải thoát. Đây chỉ nói đến những tôn giáo chánh nghĩa dẫn dắt con đường tốt đẹp, còn những tôn giáo làm bại hoại gia phong, đạo đức con người thì cũng miễn bàn ở đây.

Nhìn chung ngũ giáo đều giảng dạy điều hay lẽ phải, điều thiện ác cho chúng ta, và tùy theo từng thời kỳ, văn minh, phong tục thời đó mà có những phương pháp khác nhau. Những giáo điều của ngũ giáo là chân lý, là sự thật, là đạo lý làm người, giống nhau về mặt đạo đức, giáo hóa thuần phong mỹ tục để ngày càng tốt đẹp hơn.

Hậu nhân không thể nói giáo phái này bắt chước lý luận của nhà Phật để giáo hóa tín đồ, hay ngược lại. Tức là chân lý đó, lẽ phải đó, công bằng đó, nhân quả đó vốn sẵn hiện hữu, cho dù người này không phát hiện ra điều đó, vẫn sẽ có người khác phát hiện ra điều đó không sớm thì muộn.

Chính chư Phật quá khứ sau khi giác ngộ con đường, đã tán dương, tuyên thuyết con đường ấy cho chúng sanh thực hành, noi theo. Nhưng khi các ngài nhập diệt, Bát chánh đạo ấy cũng theo thời gian mà khuất lấp đi, chẳng còn ai biết đến để tu tập nữa. Đến thời Phật Thích Ca, do công hạnh ba-la-mật sâu dày, ngài đã vén mở con đường xưa cũ; đã phát hiện lại con đường, đã phát quang lại con đường. Như vậy chúng ta cũng không thể nói Đức Thế Tôn đã bắt chước lý luận của các vị tiền bối mà làm của riêng mình.

Đời sống con người luôn là một cuộc hành trình học hỏi, đi tìm, khám phá, xây dựng… để có được cuộc sống tốt hơn, cả tinh thần lẫn thể xác… Tựu trung, người ta đã chỉ ra được bốn mối tương quan chính:

- Tương quan với chính mình, giữa ta và ta;
- Tương quan với đồng loại;
- Tương quan với muôn loài thụ tạo;
- Tương quan với Trời.

Thành ngữ có câu: do not reinvent the wheel, có nghĩa đừng tốn công phí sức tìm kiếm những phát minh đã có người tìm ra trước đó rồi. Ví như có người phát minh ra xe hơi, những người đi sau cứ thế mà dùng các thứ phụ tùng để tạo nên chiếc xe đủ kiểu tuỳ thích, miễn sao chiếc xe đạt tiêu chuẩn có thế đưa bạn đến nơi mình muốn đến là được. Bạn không cần bắt đầu bằng cách tự tìm tòi làm sao phát minh ra chiếc xe như người đầu tiên, và người khác cũng không vì thế mà chê cười bạn bắt chước người đó, mặc dù bạn có thể có đủ khả năng để phát minh ra một chiếc xe hơi. Bởi nhân loại sống trong vũ trụ vốn dĩ có những sự tương quan mật thiết với nhau, cùng nương tựa nhau, cùng chia xẻ nhau trong nhiều lãnh vực rộng lớn. Một con người sống trên quả đất, nếu chỉ vựa vào tự mình không có tương tác giúp sức từ bất cứ ai hay bất cứ cái gì bên ngoài sẽ không thể nào tồn tại được.

Giáo lý có cạn có sâu, nhưng Đạo chỉ có một. Đạo là gốc, giáo là ngọn. Chân lý là một sự thật của loài người luôn luôn đúng và tồn tại mãi mãi theo thời gian, không phải vì người này nói thì chân lý mới đúng, còn qua miệng người khác thì chân lý bị sai. Vì vậy chúng ta nên tùy căn cơ của mình mà chọn cho mình con đường đi đúng nhất cho riêng mình. Không nên sanh tâm phân biệt, chia rẻ giáo này với giáo khác, không nên nói giáo này bắt chước giáo kia. Chỉ nên dùng trí phân biệt giáo lý đó giúp đời giúp người hay hại đời hại người. Xác định mục đích mình tu để làm gì là đủ (tu thân, tu tâm, tu phước, tu huệ, tu để làm người trở lại thế gian hưởng phước báu, tu để lên trời Khí thiên một thời gian rồi hết phước xuống lại trần gian, tu để về trời Lý thiên niết bàn để không còn luân hồi nữa, bạn tự quyết định cho mình vậy). Nếu tu để giải thoát luân hồi trong một đời này kiếp này thì chỉ có một chánh pháp duy nhất mà không thể truyền phép trên giấy được, dù đọc nát sách trong thiên hạ vẫn không có được Đạo, tốn công vô ích. Nếu không nương tựa vào chánh pháp nhãn tạng độc nhất vô nhị này, quá trình tu phước huệ để trở về Lý thiên niết bàn cần phải trải qua quá trình dài trong nhiều đời nhiều kiếp may ra mới có thể thành tựu được. Trên thế giới này không ai chứng đắc thành Phật vì chỉ do thông hiểu tất cả các kinh điển cả.

Đức Phật dạy trong một mật điển:

- Trong tất cả chư Phật đã đạt giác ngộ, không có một vị nào thành tựu việc này mà không nhờ một bậc thầy, và trong tất cả ngàn vị Phật sẽ xuất hiện trong đại kiếp này, không một vị nào sẽ đạt giác ngộ mà không nương tựa vào một bậc thầy.

Phật, danh từ Buddha, có một ý nghĩa sâu xa hơn nhiều. Nó có nghĩa là một con người, bất cứ người nào, đã hoàn toàn thức dậy từ giấc ngủ vô minh và mở mang tiềm năng trí tuệ bao la của mình. Một đức Phật là một người đã chấm dứt đau khổ và bất mãn, đã tìm ra một niềm bình an, hạnh phúc dài lâu bất tận. Nhưng đối với nhiều người trong thời đại hoài nghi này, thì trạng thái ấy có vẻ như một điều huyễn hoặc, mộng mị, hay một sự thành tựu hoàn toàn vượt ngoài tâm chúng ta. Điều quan trọng nên nhớ là, đức Phật đã từng là một con người như bạn và tôi. Ngài chưa từng tuyên bố là thần thánh gì cả, ngài chỉ biết ngài có Phật tính, hạt giống của giác ngộ, và mọi người cũng đều có. Phật tính là quyền sống của mọi chúng sinh, và tôi thường nói rằng Phật tính nơi chúng ta cũng tốt như Phật tính nơi bất cứ đức Phật nào.


Linh tánh của con người là chẳng có sự phân biệt quốc tịch, chủng tộc, môn phái tôn giáo. Sự phổ độ của Thiên Đạo cũng là siêu vượt những rào cản của thời gian, không gian, quốc tịch, chủng tộc, môn phái tôn giáo, bởi vì sự thù thắng của Thiên Đạo phổ độ ở chỗ Tam Tào phổ độ. Tam Tào Phổ độ có thể độ những người của thời cổ xưa, độ những người của thời hiện tại, độ những người phương đông, độ những người phương tây, độ các linh trên trời, độ các linh dưới đất, do đó mà Thiên Đạo phổ độ là siêu vượt thời gian, không gian.

Thiên đạo cũng chẳng có nhà cao cửa vách, chẳng có chỉnh đốn quy định giới hạn lẫn nhau mà tạo ra những kì thị và xung đột. Phải biết rằng “Đạo” chẳng phải là độc quyền chuyên thuộc của bất cứ pháp môn tôn giáo nào, “Đạo” là cái mà mỗi một người - bạn, tôi, anh ta vốn dĩ tự có, “Đạo” là cái mà chúng sanh khắp thiên hạ cùng sở hữu, cũng giống như Thượng Đế Hoàng Mẫu cũng là đấng mà chúng sanh, các phật tử khắp thiên hạ cùng có chung. Do đó chúng sanh cần phải hộ trì, truyền bố Tam Tào phổ độ mà Thượng Đế đã mệnh lệnh chúng ta phải bàn lí. Chúng sanh chính là vì “ chẳng biết ”, cho nên mới phải “ cầu đạo ”.

Cầu đạo chính là tìm về cái Chơn Ngã ( cái Tôi thật ) của sinh mệnh. “ Cầu đạo ” chính là phải khôi phục trở về lại sự quang minh sáng ngời vốn có của linh tánh, cái linh tánh thanh tịnh, thuần chơn, thuần thiện, thuần mỹ. “ Cầu đạo ” chính là tìm thấy con đường trở về Thiên Quốc.

Những điều nói ra đây cũng do vay mượn mà có được.

Tế Phật : Nhân duyên khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, tâm mỗi người hướng đến khác nhau, do đó ông trời rộng mở các thứ pháp môn, chỉ cần chơn tâm hướng đạo, chẳng có thiên kiến, tà hành, thì mỗi người có thành tựu của mỗi người, cuối cùng tất khác đường đồng quy ( phương pháp dùng đến tuy khác nhau, nhưng kết quả đắc được thì lại như nhau )

Dương Sinh : thế nhưng trước mắt thì các tôn giáo thường có những ngôn từ thuỷ hoả bất dung, bài xích lẫn nhau, tự xem mình cao, phê bình các giáo phái khác là ngoại đạo, cấp thấp … điều này nên giải thích như thế nào ?

Tế Phật : Đấy là do cái tâm ích kỉ tác quái của nhân loại mà ra. Lấy đại vũ trụ mà nói, nhân loại, vật loại mỗi loại đều có quyền lợi sinh tồn của chúng; lấy tôn giáo mà nói thì các giáo đều lấy sự giáo hoá làm tông chỉ, có tính trang nghiêm của nó; ở một người hiến thân trong tôn giáo thì nên ôm ấp mang cái tâm nguyện mở bệnh viện cứu người, chỉ tồn cái tâm cứu người giải khổ, chẳng nên bởi vì chủng loại tín ngưỡng có sự khác biệt mà cho ra những sự đãi ngộ khác nhau, nếu không thì bèn đánh mất đi tính thần thánh và lập trường nhân đạo của nó. Đáng tiếc là các tôn giáo thời nay vì để lôi kéo các tín đồ, giành giật giáo bàn, chỉ có một con đường đả kích tôn giáo khác, như thế chẳng tôn trọng các tôn giáo khác, xuất ngôn hoặc soạn sách huỷ báng, đều tự tạo ra tội nghiệp nhân ác, chẳng những khó thành chánh quả, lại còn phải đoạ xuống địa ngục chịu báo. Người tu đạo điều quan trọng nhất là ba nghiệp “ thân khẩu ý “; ba nghiệp có khiếm khuyết, tâm tánh bất bình thì vẫn là phàm phu, người học phật tu đạo không thể không cẩn thận lời nói và hành động.

...

Trích Kinh Mi Tiên vấn đáp:

139. Đức Thế Tôn là người khai sáng Đạo hay Đạo có sẵn từ ngàn xưa?

- Thưa đại đức! Đạo vốn có sẵn tự ngàn xưa phải chăng?

- Vâng, có tự ngàn xưa, do chư Phật quá khứ đã khai sáng, đã tìm ra.

- Thế sao Đức Thế Tôn của chúng ta lại nói rằng "Như Lai là người làm cho Đạo chưa phát sanh được phát sanh"? Vậy ra lời nói sau lại nghịch ngôn, mâu thuẫn với lời nói trước.

- Chẳng có hai lời sái nghĩa đâu, tâu đại vương! Đạo xưa ấy là nói về Bát chánh đạo, con đường có tám chi; đấy là con đường đi đến giải thoát, chấm dứt sinh tử luân hồi. Chính chư Phật quá khứ sau khi giác ngộ con đường, đã tán dương, tuyên thuyết con đường ấy cho chúng sanh thực hành, noi theo. Nhưng khi các ngài nhập diệt, Bát chánh đạo ấy cũng theo thời gian mà khuất lấp đi, chẳng còn ai biết đến để tu tập nữa. Đến thời Phật Thích Ca, do công hạnh ba-la-mật sâu dày, ngài đã vén mở con đường xưa cũ; đã phát hiện lại con đường, đã phát quang lại con đường, tu tập theo con đường, giác ngộ con đường... cho nên gọi là làm cho con đường được phát sanh! Lý nghĩa ấy thì có gì mâu thuẫn đâu, tâu đại vương?

- Thưa đại đức! Phát sanh là chưa có mà bây giờ lại có, lại sanh ra. Còn Đạo vốn là cái có sẵn nên không thể lập ngôn như vậy được!

- Đại vương nói rất có lý. Nhưng đại vương nghĩ thế nào trong trương hợp viên ngọc mani với đức Chuyển luân Thánh Vương? Phước đức của đức Chuyển luân Thánh Vương từ ngàn xưa có công năng làm cho ngọc mani xuất hiện, gọi là ngọc mani phát sanh đến cho đức Chuyển luân Thánh vương. Nhưng đến khi đức Chuyển luân Thánh vương mãn tuổi thọ, ngọc mani ấy cũng bị biến mất, đến trú ẩn nơi đỉnh núi Vikula. Nhiều đời sau, đức Chuyển luân Thánh vương khác lại ra đời trên thế gian, ngọc mani xuất hiện, lại tìm đến cho đức vua ấy. Thế có thể lập ngôn là ngọc Mani phát sanh đến cho đức Chuyển luân Thánh vương không hở đại vương?

- Có thể được.

- Nghĩa là đức vua ấy không thể tạo ra ngọc mani mà mani ấy vốn có sẵn?

- Đúng vậy.

- Chữ "phát sanh" mà Đức Thế Tôn dùng cũng nằm trong ngữ nghĩa ấy. Đức Thế Tôn không tạo ra Đạo mà Đạo vốn là có sẵn.

- Trẫm hiểu rồi. 

...



Ngày cuối cùng

Thương Nhân loại đã kề miệng hố.

Động lòng, đây tiết lộ đôi hàng.

Để cho Bá tánh biết đàng.

Tránh cơn nguy biến chuyển muôn ngàn khổ đau.

 
Cơ Tận diệt có đâu tránh khỏi.

Phật-Thánh-Tiên các cõi xuống Trần.

Lịnh truyền bố trí xa gần.

Lập phương cứu thế, khắp miền Đông Tây.

 
Cuộc Đại Tạo, Âm Dương biến chuyển.

Do cơ đồ phát triển canh tân.

Cõi trên, Cõi dưới đổi dần.

Vô hình định đoạt, Hữu hình hiện y.

 
Muốn đổi mới cái gì có sẵn.

Phải san bằng cho sạch cũ đi.

Là cho đúng lúc kịp thì.

Đó là Định-luật chuyển-di tuần-hườn.

 
Cuối Ngươn-Hạ, máy Huyền phát động.

Khắp Địa cầu đâu đặng còn nguyên.

Bao nhiêu những chuyện kinh Thiên.

Tang-điền Biến-hải, đảo điên muôn loài.

 
Lúc Chúng sanh đang còn ngơ ngác.

Tin chắc rằng đời sống văn minh.

Của nền khoa học hiện tiền.

Là đà chiến thắng Thiên nhiên của người.

 
Đâu có biết cơ Trời lại khác.

Trao cho người khí giới diệt vong.

Để cho tự giết cho đồng.

Để cho Thần thánh nhọc công ngày cùng.

 
Nguyên tử lực, tân kỳ khoa học.

Một phát minh cao cả của người.

Là con rắn độc hai đầu.

Nắm đuôi cũng khổ, nắm đầu cũng nguy.

 
Khoa học biết ngoài da, nhánh lá.

Đạo học thông nguồn-gốc vạn loài.

Biết da, dốt gốc phàm nhơn.

Biết da, thông gốc Phi-nhơn siêu phàm.

 
Thời Âm trược, cực hung cực ác.

Trận thứ ba hồn xác khó tồn.

Chia ra hai mối tranh hùng.

Văn minh vật chất đến ngày cáo chung.

 
Nền trật tự Hóa công đã sắp.

Mà con người muốn lấn sang tranh.

Vệ tinh hỏa tiễn phóng nhanh.

Ra ngoài biên giới hành tinh của mình.

 
Làm rối loạn quân bình vũ trụ.

Hãnh diện rằng chinh phục không gian.

Ngờ đâu phản ứng dây chuyền.

Rồi đây Hạ giới chịu nhiều họa lây.

 
Lẽ tiến hóa, ai đâu chẳng muốn.

Nhưng phải cùng Định luật Thiên nhiên.

Thông minh trí thức làm liều.

Là cơ phản tiến, tiêu điều trần gian.

 
Cơ khí hóa, muốn bằng Tạo hóa.

Trớ trêu thay châu chấu chống xe.

Sức người mà lại muốn khoe.

Sánh cùng Thiên Địa, Mẹ Cha muôn loài.

 
Muốn như vậy phải lo tu tập.

Đạt đủ Huyền, đủ lục Thần thông.

Được cùng Trời Đất hòa đồng.

Góp phần tân tạo lập công hội này.

 
Rồi sẽ thấy huyền năng tạo hóa.

Triệu ức lần hơn cả sức người.

Tạo Trời lập Đất muôn loài.

Sanh ra Vũ trụ chẳng cần máy chi.

 
Đảo lộn hết, không gì ngăn nổi.

Tạo lại liền, chẳng nhọc công lao.

Toàn chân, Thiện mỹ, ly hào.

Phật Trời Tiên Thánh xem vào ngẩn ngơ.

 
Thượng-Trung-Hạ bắt đầu thay đổi.

Từ Đất trời, Tinh tú, Loài người.

Cỏ cây, Cầm thú, Núi Sông.

Nắng mưa, thời tiết, đâu còn như xưa.

 
Quyền tạo hóa, Chơn âm nắm giữ.

Đến kỳ ba lập lại Ngươn tân.

Đà Hoa thiên mạng giáng Trần.

Miền Nam nước Việt trung ương Địa cầu.

 
Tây phương đến, Thánh Tiên cung kính.

Đợi lịnh truyền, sứ mệnh hành y.

Tiên Thiên rồi đến Hậu Thiên.

Hiền tài sỹ tử khắp miền lập công.

 
Huyền lực hóa vô biên khó tả.

Xưa Nữ oa luyện đá vá trời.

Đà Hoa vá đất hiện thời.

Chỉnh luôn tam cõi mà đời chưa hay.

 
Bầu Thái cực, hóa sanh vạn hữu.

Cũng là nguồn dưỡng dục muôn loài.

Âm Dương tiêu trưởng vận hành.

Ngũ-hànhTứ-tượng Hà-đồ Lạc thơ.

 
Đất Nam Việt, trung ương Mồ Kỷ.

Nơi tập trung xuất phát Huyền năng.

Kỳ ba nắm hết chuẩn thăng.

Bảy hai, ba sáu, tùy tùng tại đây.

 
Chốn Linh địa, trổ sanh Nhân kiệt.

Để sau này phát triển hậu lai.

Thông minh trí thức thời nay.

Nhiễm sâu tư tưởng ngoại lai khó xài.

 
Người Đạo đức chân tài minh triết.

Đủ Nghĩa Nhân, hạnh nết vị tha.

Tước quyền, danh lợi chẳng màng.

Quên mình để giúp vạn dân muôn loài.

 
Đời Mạt Pháp sanh nhiều quỷ quái.

Tuy hình người, trong lại yêu ma.

Còn nguyên thú tính ngụy tà.

Đại gian, đại ác, điêu ngoa khôn lường.

 
Cao địa vị, buôn dân bán nước.

Nhỏ quyền hành, mưu chước lưu manh.

Hai bên cấu kết tung hoành.

Trên đe dưới búa, dân lành khổ đau.

 
Càng rối loạn, chúng càng vơ vét.

Bọn con buôn, bóc lột tận cùng.

Giàu sang một sớm một chiều.

Mua quyền bán tước, lên ngồi chỗ cao.

 
Phường bất chánh, tranh nhau trị nước.

Thì làm sao nước thịnh, dân hùng.

Chạy theo cầu khẩn liệt cường.

Chở che, củng cố uy quyền bất lương.

 
Ai chống đối, cho rằng phản loạn.

Bắt tù đày, đánh đập thủ tiêu.

Muốn yên thì phải điếc đui.

Câm mồm sống nhục, mặc ai tung hoành.

 
Một dân tộc kiêu hùng oanh liệt.

Mà lẽ nào chẳng biết phục sinh.

Khuyên người ẩn nhẫn qua truông.

Hết cơn đen tối, đến ngày quang vinh.

 
Muốn dọn đất, phải làm sạch cỏ.

Hễ phá rừng, sâu bọ chết tiêu.

Đến mùa ruộng rẫy xanh tươi.

Thâu nhiều huê lợi, người người hưởng chung.

 
Hãy trở lại gốc nguồn Dân tộc.

Lo phá điền, dọn đất chờ mùa.

Đợi Thầy Thập-tự giáng trần.

Đem nhiều giống quý lưu truyền đời sau.

 
Không dùng đến binh hùng tướng mạnh.

Cũng chẳng cần cơ khí tối tân.

Một mình vận chuyển Âm Dương.

Thắng binh, thắng tướng, thắng khoa học đời.

 
Mượn hình thức đá-cây-đất-nước.

Vận huyền vi, trừ khử trược âm.

Một bầu Vũ trụ bao hàm.

Nằm nhà điều khiển, khỏi cần đi đâu.

 
Lo lập lại cơ đồ nước Việt.

Sửa bàn cờ bốn biển năm châu.

Trong tay nắm đủ Pháp mầu.

Địa hình, địa vật khắp miền đổi thay.

 
Đuôi Tây tạng, đầu về Nam Việt.

Miệng Cửu long, ngậm biển Đại Thanh.

Huyệt linh kết tụ Khí Huyền.

Chờ giờ sấm nổ, chuyển mình thị oai.

 
Cuộc địa chấn, xảy ra rùng rợn.

Từ Nam quan tới mũi Cà mau.

Núi sông đất sụp ầm ầm.

Nước trào, lửa dậy, đá bay mịt mù.

 
Vùng Bảy núi, chẳng còn nguyên vẹn.

Trừ vài nơi, các chỗ đều thay.

Cù lao, rừng biển, thị thành.

Chỗ trồi, chỗ xụp, âm thanh rợn người.
 

Nhiều ranh giới quốc gia thay đổi.

Các liệt cường chịu khổ nhiều hơn.

Đó đền tội ác bao thời.

Đòn cân công lý Đất Trời nào sai.

 
Nước Việt mới, Kinh đô dời chỗ.

Về Hậu giang, bờ biển phía tây.

Tàu bè lui tới đông đầy.

Đền đài cung điện, kỳ quan tuyệt vời.

 
Nước thơm ngọt, trị lành các bịnh.

Tháp chín từng, mầu nhiệm vô cùng.

Lên trời, xuống biển có đường.

Cây đờn, chim hát, gió nồng mùi hoa.

 
Khắp các nước đổ xô nhau đến.

Để dò xem huyền diệu tân kỳ.

Thấy rằng thế giới không bì.

Tinh thần vật chất, cực kỳ siêu linh.

 
Đến chừng đó, mới xin thọ giáo.

Tôn làm thầy, học Đạo học Đời.

Sau về truyền bá khắp nơi.

Văn minh tuyệt đỉnh của thời Thượng Nguyên.

 
Sẵn vàng bạc ngọc ngà châu báu.

Thêm các hầm có mỏ lộ thiên.

Giúp chi thập bát còn tồn.

Đủ phương kiến Quốc sống Ngươn thanh bình.

 
Có điềm trước, báo ngày tận thế.

Trên bầu trời, đổi sắc xám đen.

Mây giăng lơ-lửng ưu-sầu.

Mùi hôi nồng nực xông lên ngất trời.

 
Làm cầm thú chạy hoang sợ hãi.

Dưới biển-sông, cá nổi như bèo.

Tự nhiên cây ngả khắp cùng.

Không trung lửa dậy, nước thì rút khô.

 
Ba tiếng sấm, rung rinh Tam cõi.

Kế Ngũ lôi chuyển nổ kinh hồn.

Tuần hườn ngưng hẳn vận hành.

Thâu hồi Nhật-nguyệt Ngũ-hành còn đâu.

 
Tối như mực, ngày đêm năm bữa.

Không trời trăng, nóng lạnh gió tiêu.

Muôn loài bất tỉnh để mê.

Lọc ra số ít, để dành Ngươn sau.

 
Dưới thủy quái, trồi lên chực sẵn.

Trên thú rừng, biến hóa thần thông.

Xông ra giết hại loài người.

Cướp hồn, cướp xác, nhiễu nhương khắp cùng.

 
Trước ngày đó, nhập trong dân chúng.

Bọn bàng-môn tả-đạo tung hoành.

Xuống-lên ợ-ngáp diễn tuồng.

Dụng bùa, dụng ngãi, pháp phù giết nhau.

 
Các đảng phái cũng ra múa rối.

Xưng rằng đây, mới đủ khôn lanh.

Chống nhau để nắm quyền hành.

Làm cho xáo trộn các ngành quốc gia.

 
Còn Tôn giáo, thiên về sắc tướng.

Đi quá phần, theo hưởng lợi danh.

Tín đồ chia rẽ phân tranh.

Tranh quyền lãnh đạo, rồi cùng hại nhau.

 
Dân khốn khổ, chay theo vật chất.

Chỉ lo tiền, chẳng thiết nghĩa nhân.

Trên đe, dưới búa, dập bầm.

Sống trong áp bức, lầm than cực cùng.

 
Thiên tai đến, tháp cùng địa ách.

Khắp hoàn cầu, hoạn nạn đủ bề.

Binh đao khói lửa mịt mù.

Thêm nhiều bịnh lạ, giết người phút giây.

 
Thời Âm cực, là thời đại loạn.

Cảnh máu đào, chết chóc thê lương.

Đâu đâu nước mắt đau thương.

Gia đình tiêu tán, ruộng vườn hoang vu.

 
Cơ đã định, chỉ còn có một.

Luật tuần hườn, thay đổi Ngươn kỳ.

Muôn loài phải chịu phân ly.

Để rồi tiến hóa thêm nhiều hơn xưa.

 
Có tận thế, có Cơ Cứu Thế.

Vì lòng từ các Đấng thiêng liêng.

Cùng nhau xuống tận hạ miền.

Ra tay giáo hóa, cứu nguy muôn loài.

 
Vì nhiệm vụ, lìa ngôi cung thượng.

Đà-La-Hoa Thiên-mạng hiện thân.

Chơn âm ra lịnh ân cần.

Phật Trời Tiên Thánh cứu thêm vài phần.

 
Các Giáo chủ hội về đầy đủ.

Để xin cùng Phật Mẫu lãnh công.

Trước lo trật tự Giáo môn.

Sau cùng các Đấng lập phương cứu đời.

 
Tiên Thiên đến, Hậu Thiên tiếp sức.

Các Linh căn có xác dưới Trần.

Đều ra trình diện Mẫu Nghi.

Để lo cứu nước, cứu dân Hội này.

 
Giờ cứu thế thật là huyền diệu.

Mùi hoa thơm, Mẫu rưới khắp miền.

Tiếng đờn nhạc trỗi triền miên.

Chuông ngân trầm bổng, ru hồn vạn linh.

 
Phật Tiên Thánh đi trên thây chết.

Dụng pháp mầu chọn lọc xác hồn.

Lựa người, lựa vật được tồn.

Mùi hoa cho ngửi, chuông đờn cho nghe.

 
Lần lần tỉnh giấc mơ mới biết.

Hiện mình đang sống cõi xa xăm.

Lạ quê, lạ cảnh, lạ người.

Gia đình quyến thuộc, ít còn gặp ai.

 
Loài cầm thú, cỏ cây sông núi.

Được chuyển qua Cõi Thượng đều xinh.

Thuần Dương, Trái đất biến hình.

Thuần Âm, trọn đủ linh thiêng vô cùng.

 
Tạo lập lại, trong ngày hắc ám.

Mẫu Đà-Hoa diệu dụng Pháp Huyền.

Di Đà khai sáng ba miền.

Bốn mưới tám nguyện đến nay viên thành.

 
Cơ phán xét, tới đây chấm dứt.

Đại Phong-Thần đủ bảng kỳ ba.

Long-hoa Đại Hội cộng đồng.

Định xong ngôi vị muôn loài Ngươn tân.

 
Địa cầu mới, số ghi hai bảy.

Chất đất thuần, thơm mãi mùi hoa.

Chơn Âm thống lãnh Ngươn đầu.

Thời kỳ định lại ba ngàn sáu trăm.

 
Hiệp tam giáo, quy còn một Đạo.

Lưu truyền do bốn tám Tổ sư.

Khai nguyên tân Pháp nhiệm mầu.

Lục căn đã diệt, tu mau đắc thành.

 
Xã hội mới, văn minh cao độ.

Các nghành đều tiến bộ khó lường.

Con người sống cảnh Thần tiên.

Thân hình đẹp đẽ, thông minh vô cùng.

 
Miệng cười mãi, thân hình thơi thới.

Nhờ mùi hoa, nước miếng ngọt hoài.

Đất linh, học ít, biết nhiều.

Giống dân Nam Hớn duyên ra nối truyền.

 
Hoa nước Việt, toàn cầu được hưởng.

Hai miền trên, Trung-Thượng được nhờ.

Là hoa Thượng cổ không trồng.

Huyền-năng vô-lượng, hóa sanh muôn loài.

 
Một tiểu quốc, thay hình đổi dạng.

Thành Đại Bang chủ tể hoàn cầu.

Thật là huyền bí nhiệm mầu.

Hậu Hồng Bàng đó, Nhị Đồ Tạo-công.

 
Đây là báo trước việc vui việc khổ.

Nước tới chân, nên lộ vài phần.

Mong cho Đời Đạo ân cần.

Thâm Tâm lo chỉnh để còn ngày sau.

 
Chớ ỷ lại có người cứu thế.

Rồi tha hồ tự tạo nghiệp sâu.

Cộng trừ dưới điểm được tồn.

Hùm tha, sấu bắt, xác hồn ra tro.

 
Một kiếp sống, bao nhiêu đau khổ.

Được làm người trên cả các loài.

Phải cho xứng đáng làm Người.

Chớ đâu sanh sống, chết như các loài.

 
Sao không biết tu-Thân tích-Đức.

Để đến gần Tiên Phật Thánh Thần.

Các Ngài sẽ hiện xuống trần.

Sống bên dân chúng ở thời Hậu lai.

 
Phật, Tiên, Thánh người Phàm đắc Đạo.

Cũng là người, đâu phải quỷ ma.

Sao không có tiến kịp đà.

Để cho sa đọa dưới hầm lửa sâu.

 
Kỳ ba, lọc quan-quân tu-sỹ.

Cùng xét chung tất cả các loài.

Màn đêm phủ đến nơi rồi.

Mạng nào cũng trễ, không xong trong ngày.

 
Hiểu lý chết, mới tường lý sống.

Nên biết rằng, chết-sống tương quan.

Đó là nhân quả luân hồi.

Sống lành chết nhẹ, tái sanh tiến hoài.

 
Đời với Đạo tuy cùng tại thế.

Chia hai đường phát triển song hành.

Xác-Hồn phải được quân bình.

Lo trau vật chất, tinh thần muội mê.

 
Các Tôn giáo phổ truyền Từ-Ái.

Mà được Từ, được Ái mấy người.

Tu theo thế kỷ hai mươi.

Đâu rồi hoàn đó, Đạo đời khó phân.

 
Tu kinh kệ, âm thinh, sắc tướng.

Tạo cho nhiều chùa thất, tượng hình.

Đạo mầu Vô thượng, Vô thinh.

Tâm là Chơn Phật, xác thân là chùa.

 
Chạy tìm Đạo, Đông tây khắp chốn.

Không biết rằng tại nước non nhà.

Phật Trời Tiên Thánh hội về.

Lập Đời, lập Đạo, Pháp mầu độ sinh.

 
Ham mau đắc, huyền linh lạc nẻo.

Lưới Ma vương giăng bủa đón mồi.

Phỉ nhơn, phân biệt, không rời.

Chín phần lọt rọ, chỉ còn một thôi.

 
Trong Vũ trụ con người gồm đủ.

Cùng vạn loài, một thứ mà ra.

Tướng hình tuy khác bề ngoài.

Đều do Tứ-đại Âm-Dương tạo thành.

 
Tu phải biết tìm trong xác thể.

Chủ-Nhơn-Ông lồ lộ bên trong.

Linh thiêng, xinh đẹp nhiệm mầu.

Chớ đâu ông Phật xi-măng ở Chùa.

 
Cứ tụng đọc sách kinh có chữ.

Không chịu tìm Vô-tự Chơn-Kinh.

Kinh này không chữ không hình.

Tụng trì đắc quả, rõ thông Đất trời.

 
Học ba mớ bề ngoài chưng diện.

Rồi xúm tôn ông nọ, ông kia.

Đạo mầu không chức tước nào.

Không cần chưng diện, Huyền vi vô cùng.

 
Tướng ngoài-Phật.

Tâm trong yêu quái.

Dắt chúng sanh về với Ma vương.

Đạo trong thể hiện Tâm-Vương.

Trừ tà, giác-chúng ngoài thường không lo.

 
Tu cho Hồn được tự do xuất nhập.

Lìa Thân nhà, về viếng Quê xưa.

Đó là Cư sỹ xuất gia.

Chớ đâu trốn mẹ, trốn cha vô chùa.

 
Người chân chánh, không phân Tôn giáo.

Giáo chủ đều cùng gốc xuống Phàm.

Tuy dùng Phương tiện khác nhau.

Tín đồ chia rẽ, Đạo Tâm một mà.

 
Đâu cần phải Chùa to, Phật lớn.

Ở chòi tranh, Đạo vẫn quang minh.

Tại gia cũng chứng quả lành.

Không thâu, không lấy của tiền thập phương.

 
Học Đạo lý, học trong thể xác.

Khỏi cần tìm lý thuyết mông mênh.

Phật xưa đâu có học kinh.

Làm câm, đui, điếc Đạo Tâm mau thành.

 
Khi biết được trong Thân đầy đủ.

Màn Vô-minh tan vỡ lần lần.

Tâm linh sáng tỏ trong ngần.

Càn Khôn vạn vật trong tầm mắt ta.

 
Không cần học Đạo, Tâm vẫn biết.

Đủ phép mầu, diệu dụng vô biên.

Công-viên, Quả-mãn, Siêu-Phàm.

Giúp cơ cứu thế cuối ngày Hạ Ngươn.

 
Đạo không nói, vô hình im lặng.

Đức không khoe, cũng chẳng cần khen.

Hạnh-lành đầy đủ âm thầm.

Hóa-sanh dưỡng-dục, muôn loài vạn linh.

 
Đã nhiều vị xuống Cơ, ra Sấm.

Khuyên Dương-trần lo sửa Thân-Tâm.

Cũng cho biết việc xa gần.

Bị người chế nhạo nói khùng, nói điên.

 
Đây có nói, e người không thích.

Nhưng lộ cho biết chuyện hãi hùng.

Của ngày Tận diệt cuối cùng.

Để đời nghĩ lại ai khùng, ai điên.

 
Khuyên bá tánh, chăm lo ruộng rẫy.

Sắm lưới chài, dò đẫy, đăng nò.

Tới mùa thu lợi đầy kho.

Gia đinh sung túc, quốc gia phú cường.

 
Đất sắp chết, như người hấp hối.

Ngũ tạng lìa, Tứ đại đảo điên.

Năm châu, bốn biển ngả nghiêng.

Muôn loài rối loạn, đâu nguyên sắc mầu.

 
Việc sẽ đến trong đời hiện tại.

Chớ đâu xa trăm vạn năm sau.

Cơ trời như thể mộng mơ.

Ngủ đêm một giấc, ban mai đổi đời.

 
Qua năm tý, nhiều lời lắm chuyện.

Còn bây giờ, ít chuyện ít lời.

Nhắn cùng các Điển Linh-căn.

Thuyền gần rời bến, ngủ quên trễ đò.

 
Nghe Phụng gáy, Tây Kỳ vang dội.

Bạch hổ gầm, rung động rừng sâu.

Là ngày vinh hiển bắt đầu.

Việt Nam Phục nghiệp Tiên Rồng Rạng-danh

 

http://www.tamduyen.com/wp-content/uploads/2012/10/Cu%E1%BB%99c-%C4%90%E1%BA%A1i-T%E1%BA%A1o-H%E1%BB%93ng-Quang.pdf

Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn

Ngã chia làm 2: bản ngã (vọng tâm) và chơn ngã (chơn tâm). Quán chiếu nội tâm, tìm Bản Tâm, Vọng Tâm mà biến, hiện Chân Tâm. Chân Tâm rạng r...