Wednesday, March 14, 2018

Thất thập nhị Địa - 72 Địa cầu

Thất thập nhị Địa

七十二地

A: The seventy two Earths.

P: Soixante-douze Terres.


Thất: Bảy, thứ bảy. Thất thập nhị: 72. Địa: địa cầu.


Thất thập nhị Địa là 72 Địa cầu.


72 Địa cầu nầy được đánh số để gọi tên từ 1 đến 72, và quả Địa cầu của nhơn loại chúng ta đang ở là Địa cầu 68.


Như vậy, phía trên Địa cầu của chúng ta có 67 Địa cầu, và phía dưới chúng ta có 4 Địa cầu.


Càng lên cao, các Địa cầu càng trong sạch nhẹ nhàng, người trên đó càng tiến hóa và càng tốt đẹp.


Càng đi xuống, các Địa cầu càng ô trược nặng nề, người nơi đó càng xấu xa u tối, kém tiến hóa. Bốn Địa cầu bên dưới Địa cầu 68 của chúng ta mang bốn số: 69, 70, 71, 72, được gọi là U Minh Địa, bởi vì nơi đây rất tối tăm ô trược.


Do đó, nhơn loại ở trên các Địa cầu cao hơn thì có trình độ tiến hóa cao hơn chúng ta rất nhiều về phương diện vật chất cũng như tinh thần. Đức Chí Tôn có nói:


"Đứng bực Đế vương nơi trái Địa cầu nầy (Địa cầu 68) chưa đặng vào bực chót của Địa cầu 67. Trong Địa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy. Cái quí trọng của mỗi Địa cầu càng tăng thêm hoài cho tới Đệ nhứt cầu (Địa cầu số 1), etc ..."


Như vậy, sự tiến hóa của nhơn loại sẽ đi từ Địa cầu thấp lên cao. Kém tiến hóa nhứt là Địa cầu 72. Nhơn loại dần dần luân hồi chuyển kiếp tiến hóa lên các Địa cầu cao hơn, và cuối cùng sẽ tiến hóa lên tới Đệ nhứt cầu. Sự tiến hóa tới đây là đã đi hết dãy Thất thập nhị Địa.


Con người sẽ tiếp tục tiến hóa đi lên Tứ Đại Bộ Châu (Hạ) rồi lên Tam thiên thế giới (3000 thế giới), qua hết Tam thiên thế giới thì vào Tứ Đại Bộ Châu (Thượng), sau đó mới vào đặng Tam thập lục Thiên, đi hết Tam thập lục Thiên thì đến Bạch Ngọc Kinh, hiệp nhứt với Thượng Đế.


Thế là chơn linh ấy đã đi giáp một chu kỳ tiến hóa trong CKVT của Đức Chí Tôn. (Xem: Nhơn sanh quan)


TNHT: Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.


CKVT: Càn Khôn Vũ Trụ.


Địa vị của Địa cầu chúng ta trong Càn Khôn Vũ Trụ

Phật giáo gọi Địa cầu 68 là cõi Ta-bà.

Vũ trụ Hữu hình gồm có: Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới ) và Thất thập nhị Địa (72 Địa cầu).

Tam thiên Thế giới thanh nhẹ hơn Thất thập nhị Địa, nên chiếm phần trên của Vũ trụ, Thất thập nhị Địa trọng trược hơn nên ở phần dưới của Vũ trụ.

Trong Tam thiên Thế giới cũng như trong Thất thập nhị Địa, các quả tinh cầu thanh nhẹ thì ở bên trên, các quả nặng trược thì ở bên dưới. Càng lên cao thì càng thanh nhẹ trong sáng, và càng xuống thấp thì càng nặng trược tối tăm.

Các Địa cầu trong dãy Thất thập nhị Địa được đánh số từ 1 đến 72, số 1 thì thanh nhẹ nhứt và số 72 thì nặng trược nhứt. Điạ cầu của nhơn loại chúng ta là Địa cầu số 68.

Phía dưới Địa cầu 68 của chúng ta có 4 quả Địa cầu: 69, 70, 71, và 72 rất trọng trược, chìm đắm trong cảnh tối tăm nên được gọi là U Minh Địa. Trình độ tiến hóa của 4 Địa cầu nầy còn rất kém so với Địa cầu 68 của chúng ta.

Nhưng trình dộ tiến hóa của Địa cầu 68 lại kém xa so với Địa cầu 67. Càng đi lên thì càng tiến hóa.

"Đứng bực Đế Vương nơi trái Địa cầu 68 nầy, chưa đặng vào bực chót của Địa cầu 67. Trong Địa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy. Cái quí trọng của mỗi Địa cầu càng tăng thêm hoài, cho tới Đệ nhứt cầu (Địa cầu số 1), Tam thiên thế giới..." (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 74)

Sự tiến hóa đi hết dãy Thất thập nhị Địa thì bước lên Tam thiên Thế giới và cũng tiến hóa dần từ thấp lên cao.

Địa cầu 68 của chúng ta chỉ có 1 phần thanh, mà lại có 2 phần trược, nên Phật giáo gọi Địa cầu 68 là cõi Ta-bà, vì cõi nầy có nhiều ác trược, người tu phải nhẫn nhịn tối đa, nhưng nếu tu hành được thì rất mau đắc quả.

Trong Vô Lượng Thọ Kinh, Đức Phật nói rằng: "Ở cõi Ta-bà nầy mà làm lành một ngày đêm, hơn làm lành một trăm năm nơi cõi của Phật A-Di-Đà. Tại sao vậy? Vì cõi của Phật A-Di-Đà là vô vi tự nhiên, chứa đủ sự lành, không có một sự dữ nào dù nhỏ xíu như mảy lông sợi tóc."


Tuesday, March 13, 2018

Ta thương mình nhất

Vua Ba Tư Nặc có hoàng hậu rất dễ thương là Manika (Mạc Lợi). Hai người rất tâm đầu, ý hợp. Có lần vua hỏi hoàng hậu rằng: Trên cuộc đời này, ái khanh thương yêu ai nhất? 
Hoàng hậu trả lời:
- Nếu bệ hạ không bắt tội và cho phép thần thiếp trả lời đúng sự thật, thì thần thiếp mới dám nói.
Ta cho phép – Vua nói. Và câu trả lời của hoàng hậu là: “Thiếp yêu thiếp nhiều nhất”!
Ông nói: Ái khanh hãy nói lại lần thứ hai. Hoàng hậu vẫn nói y hệt như vậy. Ông yêu cầu lập lại lần thứ ba, hoàng hậu vẫn trả lời chính xác như vậy.
Bà nói rằng, chính Đại vương cũng yêu Đại vương nhất đó thôi! Giả sử, nếu Đại vương thấy thần thiếp tư tình với một võ tướng nào khác, có phải ngài sẽ đem thần thiếp và tên võ tướng đó ra chém đầu không? Chính vì mình quá yêu tự ngã của mình nên không muốn ai tranh giành chiếm đoạt. Thần thiếp cũng vậy. Vì muốn mình được sủng ái, nên phải làm mọi cách để vừa lòng ngài thôi. 
Gặp đức Phật, Mạc Lợi đã đặt lại câu hỏi “Khi con thương một người nào đó, chẳng hạn như Đại vương Ba Tư Nặc thì có phải là con thương chính con nhiều nhất hay không?”
Như Lai Thế Tôn nói: “Đúng thật như vậy”.
Lúc đó, vua càng ngạc nhiên không hiểu tại sao đức Phật lại đồng tình với người mình thương như vậy. Vua suy nghĩ, với cách gợi ý của đức Phật, bỗng dưng ông cảm nhận ra điều bản chất của tình yêu giới tính là sự vướng mắc, chấp thủ và chiếm hữu. Sở dĩ chúng ta muốn chiếm hữu người khác, vì chúng ta đang có nhu cầu để khỏa lấp sự cô đơn trống vắng trong tâm hồn.
 
Cũng vậy, chúng ta hãy quan sát đám ma, người quá cố là một bà mẹ, có tình thương bao la đồng đều với những người con, gia tài sự nghiệp, lại ra đi trong tuổi lẽ ra bà phải được hưởng thụ sự chăm sóc hiếu thảo của con cái. Những đứa con khóc gào thét, kể lể đủ cách thức khác nhau. Nếu chúng ta lắng nghe những lời gào thét đó, thỉnh thoảng bắt gặp những câu như thế này: “Mẹ ơi, mẹ ra đi bỏ con cho ai, mẹ đi rồi con sẽ sống ra sao? Rõ ràng những lời than khóc đó không hề tiếc nuối sự ra đi của người mẹ.
 
Nếu người con nghĩ rằng khi mẹ ra đi, giá trị của mẹ không còn nữa, con tiếc nuối lắm thì còn có ý nghĩa là người con hiếu thảo. Đằng này lại nói “Mẹ ra đi rồi con sống với ai” có nghĩa là con cô đơn quá nên con không muốn mẹ ra đi, mẹ có mặt thì con được chăm sóc, mẹ có mặt thì có mọi thứ trong gia đình này, có người nâng khăn sửa túi mà con không phải lo gì cả, mẹ có mặt thì con được hạnh phúc... Như vậy là mình thương sự cô đơn của mình chứ mình không thương người mẹ. Ngay trong cái chết, sự thương yêu của con người vẫn nằm ở trục xoay của bản ngã, xung quanh những giá trị mình đang có. Nếu ai đến với tình yêu vì bản ngã, thì sau khi người bạn của mình qua đời, cũng sẽ tái giá. Vì họ cần sự chăm sóc chứ không phải cần tâm hồn yêu thương, nên khi người đó không còn, họ sẽ thay thế người thứ hai, thứ ba... chỉ để thoả mãn thôi. Ai cũng thương bản thân mình nhiều nhất, khi tình thương của người yêu mình rót vào không đủ thì sẽ chia tay.
 
Hiểu như vậy để chúng ta không đi vào trạng thái bế tắc, và để cho sự chấp mắc trong tình yêu. Cho nên thương một người mà muốn họ có được tuổi thọ về tình yêu bền bỉ với mình, trăm năm răng long, tóc bạc thì chúng ta hãy đến với tình yêu bằng ngôn ngữ của lý trí và sự cảm thông.
 
 
Một thời, Thế Tôn trú tại Sàvatthi. Lúc bấy giờ vua Pasenadi nước Kosala có mặt với hoàng hậu Mallikà, trên lầu thượng (hoàng cung). Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với hoàng hậu Mallikà:
 

Này Mallikà, có ai khác thân ái với hoàng hậu hơn là tự ngã của hoàng hậu?
 
Thưa đại vương, không có ai khác thân ái với thiếp hơn là tự ngã của thiếp. Nhưng thưa đại vương, có ai khác thân ái với đại vương hơn là tự ngã của đại vương?
 
Này Mallikà, không có ai khác thân ái với ta hơn là tự ngã của ta.
 
Rồi vua Pasenadi đi đến đảnh lễ, bạch Thế Tôn:
 
Bạch Thế Tôn, con có nói với hoàng hậu Mallikà:
 
Này Mallikà, có ai khác thân ái với hoàng hậu hơn là tự ngã của hoàng hậu?
 
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, hoàng hậu Mallikà trả lời với con:
Thưa Ðại vương, không có ai khác thân ái với thiếp hơn là tự ngã của thiếp. Nhưng thưa đại vương, có ai khác thân ái với đại vương hơn là tự ngã của đại vương? Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời cho hoàng hậu Mallikà:
 
Này Mallikà, không có ai khác thân ái với ta hơn là tự ngã của ta.
Rồi Thế Tôn, sau khi biết rõ, nói lên bài kệ này:
 
Tâm ta đi cùng khắp
Tất cả mọi phương trời
Cũng không tìm thấy được
Ai thân hơn tự ngã
Tự ngã đối mọi người
Quá thân ái như vậy
Vậy ai yêu tự ngã
Chớ hại tự ngã người.
 

(ĐTKVN, Tương Ưng Bô I, chương 3, phẩm 1, phần Mallikà, VNCPHVN ấn hành, 1993, tr.173).

 
LỜI BÀN:
 
Thường thì trong những lần gần gũi, tâm sự với những người mình yêu thương như cha mẹ, vợ chồng, con cái v.v… chúng ta thường nói rằng ta thương yêu họ nhất. Dẫu rằng, những lời yêu thương ấy hầu hết là thật lòng, phát xuất từ tình cảm chân thành, nhưng nếu bình tâm suy xét tận cùng trong sâu thẳm của lời ái ngữ kia sẽ thấy rõ rằng chúng ta vẫn chưa thương được người ngoài bằng chính bản thân mình.
 
Ta thương mình nhất là một sự thật. Ta cũng thương những người thân của mình nhưng ít hơn thương mình và động cơ của tình thương ấy cũng vì ta. Hiếm hoi lắm ta mới mở rộng được biên giới của tình thương, yêu thương tất cả mọi người, mọi loài mà không có điều kiện. Vì chấp ngã là một tập khí sâu dày của chúng sanh. Chấp thủ về ta và của ta được thiết lập từ vô thỉ, cùng với ta du hành trong vạn nẻo luân hồi.
 
Nhận thức rõ ràng về tình thương của ta như thế để thấy rằng ngã ái vốn rất nặng nề đồng thời đây là cơ hội để ta xem lại tình thương của mình dành cho những người thân (và những người đáng thương) đã thực sự vì họ hay chỉ vì ta? Mặt khác, nhờ sự quán sát này mà ta nghiệm ra rằng mình yêu thương bản thân mình nhiều nhất và biết người khác cũng như vậy nên tôn trọng và bảo vệ sự sống của họ.
 
Ai cũng yêu quý thân mạng của mình nên nguyện không giết hại, không làm tổn hại sự sống của mọi người, mọi loài khác.

Thursday, March 8, 2018

Câu chuyện Ngụy Trưng xử trảm Long Vương

Đời nhà Đường (618-907), triều Lý Thái Tông (Lý Thế Dân), niên hiệu Trinh Quán năm thứ 13.

Gần thành Trường An, bên bờ sông Kinh Hà nước trong lắm, dựa mé sông có một người thuyền chài tên gọi là Trương Tiêu, nữa là người đốn củi tên là Lý Định, hai người tuy không phải là ông nghè trong trường học, nhưng cũng là những người biết chữ chốn non cao, không chuộng công danh mà chỉ lấy nghiệp ngư tiều làm vui thú.

Một hôm, hai người vào trong thành Trường An, sau khi bán hết những vớt củi trên vai và những tôm cá trong giỏ. Hai người đưa nhau vào quán rượu, mùi rượu thơm phức, mỗi người làm lấy một bình, lững thững về bên bờ sông Kinh Hà. Trương Tiêu nói:

– Lý huynh ạ, những kẻ nào mà ham danh rồi sẽ vì danh mà chết oan, kẻ trụt lợi sẽ vì lợi mà hại đời đó, hưỡng lộc như ôm cọp bên mình, được ơn như nuôi rắn trong túi, kể ra, huynh đệ chúng ta ngày ngày vui với non xanh nước biếc, thảnh thơi qua ngày, còn gì bằng nữa cơ chứ.

Lý Định nói:

– Trương huynh nói nghe có lý đấy, nhưng nước biếc của ông anh không bằng non xanh của tiểu đệ.

Trương Tiêu nói:

– Non xanh của ông anh không bằng nước biếc của tiểu đệ. Xin ông anh hãy nghe đây.

Xa xa sóng vỗ thuyền con,
Giọng Tây thi vẫn véo von quanh buồn
Rỗi tìm cỏ ngát hoa thơm
Lo phiền rũ hết chẳng màng lợi danh
Vui nhìn cò gốc lênh đênh
Bờ lao ngàn liễu rập rềnh vợ con,
Sống yên gió lặng ngủ ngon,
Không phiền không não chẳng còn nhục vinh.


– Hay thì có hay đấy nhưng cũng xin ông anh nghe đây:

Mây quanh đầy dẫy hoa thông,
Tiếng oanh ríu rít như cùng đàn ca,
Xuân về xanh thắm đỏ nhờ,
Hè nòng đuổi đến ngày giờ chuyễn mau,
Đổi thay ngày tiết sang thu,
Hoa vàng thơm ngát ngao du thỏa tình
Mùa đông rét đến thình lình,
Bốn mua vui thú ngỡ mình thần tiên.


Hai người đọc những bài tiểu phú rồi cùng làm thơ đối đáp, vừa ngâm vừa đi.

Tới chổ rẻ, khi chào nhau từ biệt, Trương Tiêu nhắc:

– Này, Lý Huynh ạ, đi đường cẩn thận nhé, chú ý tránh hổ, nhỡ có sự nguy hiểm xảy ra, e đầu phố ngày mai thiếu bạn hiền đó.

Do sự hiểu nhầm giữa hai người đâm ra to tiếng và cứ nói khấy nhau, đấu miệng chán chê xong, Trương Tiêu lại làm lành rằng:

– Anh không rõ đấy chứ, trong thành Trường An có một ông thầy bói ở phía cửa Tây, mỗi ngày đem biếu ông ta một con cá chép vàng, ông ta bói cho một quẻ, thật là trăm lần đánh, trăm lần trúng. Hôm nay tôi lại xem bói, ông ta bảo cấm lưới ở phía đông khúc sông Kinh Hà, buôn câu ở phía tây tức sẽ được đầy lưới tôm cá. Ngày mai đem vào thành bán lấy tiền mua rượu, lại cùng ông anh chuyện trò sau.

Nói rồi, hai người chia tay ra đi, mỗi người một ngã.

Đó chỉ là câu chuyện nói trong khi đi đường, dè đâu trong cỏ có một tên dạ xoa tuần nước ở bờ sông Kinh Hà nghe được câu nói “trăm lần đánh, trăm lần trúng” vội vã về cung Thủy tinh, hoảng hốt tâu lại với Long vương.

“Tai vạ, tai vạ!”

Long vương sông Kinh liền hỏi:

– Tai vạ gì nào?

Dạ Xoa nói:

– Hạ thần đi tuần nước đến bờ sông, nghe thấy hai người đốn củi và thuyền chài chuyện trò bảo nhau lúc chia tay, người thuyền chài nói, phố cửa Tây bên thành Trường An, có một người thầy bói, tính toán rất đúng, nếu mỗi ngày cứ biếu y một con cá chép thì y sẽ bói cho một quẻ, trăm lần đánh trăm lần trúng. Nếu họ cứ bói như thế, chẳng hóa ra là loài thủy tộc sẽ bị diệt dần hết ư? Thì còn lấy ai để tô vẻ đẹp cho thủy phủ, lấy ai mà vượt sông lên ghềnh giúp đỡ oai lực cho Đại vương.

Long Vương nghe nói, giận lắm, hầm hầm cầm gươm định đến Trường An đặng giết chết lão thầy bói đó.

Thì bọn con rồng, cháu rồng, cá quan, tôm cua, quân sư cá Cháy, hiếu khanh cá Thạch quế, thái tể cá Chép đồng hè ra tấu:

– Xin Đại vương hãy nguôi giận, người ta thường nói những lời nói qua tai chớ nên tin ngay. Đại vương đi lần này, hẳn có mây theo mưa giúp, sợ làm kinh động đến dân Trường An, Trời sẽ quở trách. Đại vương là bực phép thuật tài giỏi, biến hóa lắm lối, Chỉ cần biến ra một kẻ tu sĩ vào thành Trường An, dò la thăm hỏi, nếu quả có bọn đó, sẽ tru diệt cũng chưa muộn, nhỡ ngộ không có bọn đó, chẳng hóa ra giết oan người ta ư?

Long Vương y lời tâu, bỏ gươm xuống chẳng làm mưa gió nữa, liền ra tới bờ sông, vặng mình một cái liền biến thành một tu sĩ áo trắng, dáng người anh tuấn, vẻ đẹp khôi ngô. Người ấy khoan thai bước trên đường đi, thẳng tới phố Tây thành Tràng An, thấy có một đám đông, chen chút, lộn xộn, trong đám có kẻ cất giọng hênh hoang:

– Những ai mà bản mạch thuộc rồng sẽ xung khắc với người thuộc thổ. Dần, thân, tỵ, hợi tuy là hợp nhau, nhưng hôm nay lại phạm đến sao Thái Tuế.

Long vương nghe nói biết đích là chỗ thầy bói, bèn rẻ người ra, lách lên phía trước, nhìn ào trong, người này là ai vậy? À, hóa ra là ông chú của quan Khâm Thiên Giám Đài, Viên Thiên Cương, tên là Viên Thủ Thành, ông thầy bói dáng người khôi ngô, vẻ người đẹp đẻ, đã lừng danh trong nước, lại giỏi nhất Trường An.

Long vương vào nhà chào hỏi ông thầy bói xong đâu đấy, thầy bói mời long vương ngồi trên, gọi đồng tử bưng nước lên mời trà xong, ông ta hỏi:

– ông tới đây có việc gì đấy?

– Ta muốn đến đây nhờ ông anh xem cho một quẻ mưa nắng thế nào?

Tức thì, ông thầy bói gieo quẻ và đoán rằng:

Mây tràng đỉnh núi, mù bộc ngọn rừng,
Nếu mà xem mưa, chắc tại ngày mai.


– Ngày mai đến giờ nào thì mưa, mưa được bao nhiêu tấc?

– Sáng mai đến giờ Thìn thì có mây, giờ Tỵ có sấm, giờ Ngọ thì mưa, giờ mùi thì tạnh, mưa được là ba thước ba tấc, lẽ bốn mươi tám giọt.

– Hahahaha, câu đoán này không phải bỡn đâu nghe, nếu ngày mai quả có mưa đúng giờ, đây xin tạ ơn ông 50 lương vàng, nếu không được như vậy, xin nói thực với ông, tôi sẽ lột chiêu bài và phá cửa hàng ông ra, rồi đuổi khỏi thành Trường An, không cho ông lừa dối dân chúng ở đây nữa.

Viên Thủ Thành mừng mà đáp rằng:

– Được, được, được, tưởng gì chứ, việc đó thì tùy ý ông.

Long vương từ biệt ông thầy bói ra khỏi Trường An quay về Thủy phủ.

Các tướng Thủy thần đều ra đón:

– Đại vương đi xem bói có đặng không?

Long Vương nói:

– Có, có, chỉ là cái thằng thầy bói bố láo, ta hỏi bao giờ mưa, hắn nói ngày mai mưa, ta hỏi giờ nào mưa, hắn nói giờ Thìn thì có mây, giờ Tỵ có sấm, giờ Ngọ thì mưa, giờ mùi thì tạnh, mưa được là ba thước ba tấc, lẽ bốn mươi tám giọt. Ta thách đánh cuộc với hắn, nếu đúng như lời hắn nói sẽ biếu hắn 50 lượng vàng, nếu lỡ sai một chút ta sẽ phá cửa hàng, đuổi hắn đi nơi khác, không cho ở đấy lừa dối dân chúng nữa.

Các tướng cười mà rằng:

– Đại vương là Đại thần giữ việc làm mưa, tổng quản có tám ngọn sông, có mưa hay không mưa chỉ có Đại vương mới biết được, sao nó lại dám nói bậy như vậy, lão thầy bói ấy nhất định thua đứt rồi.

Giữa lúc, bọn con rồng, cháu rồng, cá quan, tôm cua đang tún tục nói cười bàn tán với nhau, chợt nghe có tiếng gọi trên trời.

– Kinh Hà Long Vương mau ra tiếp chỉ.

Mọi người ngẩn đầu lên thấy, một lực sĩ áo vàng, tay cầm phong sắc chỉ Ngọc Hoàng bay xuống cung Thủy tinh, đi thẳng vào thủy phủ.

Long Vương ngay ngắn lại mũ áo, đốt hương tiếp chỉ xong, lực sĩ áo vàng lại quay về trời, Long vương tạ ơn mở chỉ ra xem thấy viết:

“Khắp bác hà tổng trấn, Lúc sấm sét tuôn hành,
Ngày mai làm mưa rãi khắp Trường An thành….”


“Hẹn giờ Thìn kéo mây, giờ Tỵ nổi sấm, giờ Ngọ mưa,
cuối giờ Mùi tạnh, nước dâng ba thước, ba tấc, bốn phân, tám ly”.

 
Những lời nói trong sắc chỉ so với phán đoán của ông thầy bói không sai một chút nào cả, làm cho Long vương hồn bay phách lạc, mãi hồi lâu Long vương mới tỉnh lại nói với bọn thủy tộc:

– Trần thế có bậc tài giỏi như thế, thật là bậc hiểu trời thấu đất, ta thua cuộc mất rồi.

Quân sư cá Cháy tâu:

– Đại vương cứ yêu tâm, muốn thắng y cũng không khó, thần có một kế nhỏ bịt được miệng y lại.

– Kế gì hay đó?

– Ta làm mưa sai thời khắc, bớt đi mấy giọt nước, thế là người kia đoán không trúng rồi, còn lo gì chẳng thắng cuộc. Bấy giờ ta sẽ lột chiêu bài và đuổi hắn cút xéo đi, có khó gì đâu.

Long vương y lời tâu không để tâm lo nghĩ gì nữa.

Ngày hôm sau, Long vương hội Thần sấm, Thần mây, Thần gió, Thần sấm sét lại, đến thẳng thành Trường An. Cứ đứng trên tầm mây đợi cho mãi đến giờ Tỵ mới đón mây, giờ mùi mới mưa xuống và chỉ mưa chỉ có 3 thước 40 giọt, đổi đi chậm 1 giờ và bớt đi 3 tấc 8 giọt.

Sau khi tạnh mưa, Long vương sai các tướng về trời, rồi mới từ trên mây đi xuống, lại biến hóa ra một người tu sĩ áo trắng đi thẳng vào cửa hiệu của Viên Thủ Thành.

Không để cho Viên nói năng gì hết, đập phá ngay hết tất cả các chiêu bài, bút nghiêm các thứ, ông thầy bói cứ ngồi im trên ghế không thèm động đậy gì cả.

Long vương càng tức giận, giơ ngay cánh cửa lên:

– cái giống người yêu quái, bịa đặt họa phúc, mê hoặc dân chúng, bói đáp không hay lại còn nói xằng nói qué. Thời khắc mưa đã sai rồi, số giọt mưa cũng không đúng, lại còn chiễm chệ ngồi trên hử? Còn không xéo mau đi! Ta tha tội chết cho đấy!

Nhưng Viên Thủ Thành ngồi im không chút sợ sệt, ngửa mặt lên trời, cười rằng:

– Ta không sợ đâu, đây chẳng có tội gì đáng chết cả, chỉ có nhà ngươi mới có tội chết, dối người khác chứ dối ta sao được, ta biết nhà ngươi không phải là tu sĩ, mà chính là Long vương, nhà ngươi đã làm trái sắc chỉ Ngọc hoàng, thay đổi thời khắc, bớt số giọt mưa. Nhà ngươi khó thoát khỏi lưỡi đao trên Oa Long Đài, sao lại còn dám đến đây chửi ta!

Long vương nghe nói, trong lòng sợ sệt rởn cả gai ốc lên, bỏ cánh cửa xuống, quỳ trước mặt ông thầy bói:

– Xin ông bớt giận, đất tôi ngờ đâu đùa giả thành thật, phạm vào tội trời, làm thế nào bây giờ? xin cứu giúp cho!

Viên Thủ Thành nói:
– Ta không thể cứu được nhà ngươi, nhưng có thể chỉ bảo cho một con đường sống để nhà ngươi tìm đến.

– Xin ngài chỉ giáo cho.

– Được, ba khắc giờ ngọ ngày mai, ngươi được giải đến quan Nhâm tào tên là Ngụy Trưng xử chém, Ấy nhà ngươi còn muốn sống, đến cầu cứu với Đường Thái Tông Hoàng đế. Ngụy Trưng là thừa tướng của vua Đường. Nếu đến nơi cầu được nhà vua thì sẽ vô sự.

Mặt nhựt đã chén, vầng trăng ló mọc, Kinh Hà Long vương không dám trở về thủy phủ nữa, cứ ở lại trên trời, đợi đến giờ tý canh ba, đi thẳng ào cửa cung. Thấy vua Đường đang nằm mê, vía đi ngắm hoa dưới trăng ở ngoài cửa cung, Long vương bèn biến thành hình người, tiến lên kêu lớn:

– Bệ Hạ cứu mạng, xin bệ hạ cứu mạng!

– Nhà ngươi là ai ? Trẫm sẽ cứu cho.

– Bệ Hạ là chân long, thần là nghiệt long vì tội Trời bị quan Nhâm tào là thừa tướng Ngụy Trưng, bậc hiền thần của bệ hạ xử trảm, nên thần đến đây cầu cứu bệ hạ. Trời sai Ngụy Trưng là tôi hiền của Bệ hạ, giờ Ngọ mai chém tôi.

– Nếu là Ngụy Trưng xử trảm ngươi, trẫm sẽ cứu mạng cho. Yên chí cứ về đi.

Long vương vui vẻ cúi chào ra về.

Thái Tông tỉnh dậy đang nghi nghi hoặc hoặc, một lúc sau vào hồi 3 điểm trống canh năm, Thái tông thiết triều gọi các quan văn võ lại. Các quan làm lễ xong rồi, đứng lui ra hai bên, vua Đường đưa mắt phượng con ngươi rồng nhìn từng vị, thấy trong ban quan văn có: Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, Từ Thế Tích, Hứa Kính Tôn, Vương Khuê, trong ban võ quan có: Mã Tam Bảo, Đoàn Chí Hiền, Ân Khai Sơn, Trình Giảo Kiêm, Lưu Hồng Kỷ, Hồ Kính Đức, Tần Thức Bảo. Tất cả đều uy nguy, nghiêm túc riêng chỉ thiếu có Thừa tướng Ngụy Trưng!

Vua bèn vời Từ Mậu Công Từ Thế Tích đến:

– Đêm qua trẫm nằm mộng thấy một người đến trước mặt quỳ lạy xưng là Kinh Hà Long vương phạm tội trời, do quan Nhâm tào là Ngụy Trưng xử trảm, Long vương đến cầu cứu với trẫm, trẫm đã trót nhận lời, hôm nay trong triều lại không thấy có Ngụy Trưng? Làm thế nào bây giờ?

– Theo ý hạ thần, Bệ hạ đã trót nhận lời trong giấc mộng. bây giờ cần gọi ngay Ngụy Trưng vào chầu, giữ Ngụy Trưng ở lại cho cả ngày hôm nay, như thế mới cứu được Long vương ở trong mộng được.

Vua Đường rất mừng, sai quan lập tức đi tuyên triệu Ngụy Trưng vào triều.

Nói về Ngụy Trưng thừa tướng, đêm ngồi coi thiên văn, lúc đỉnh hương ngào ngạt, chợt nghe thấy có tiếng hạc kêu chín tầng mây, thì ra là vị tiên sứ trên trời, mang sứ chỉ Ngọc Hoàng sai đến giờ ngọ ba khắc ngày mai, nằm mộng xử trảm Kinh hà Long vương. Thừa tướng lạy tạ ơn trời, ăn chay tắm gội xong, vào mài gươm, tuệ kiếm, vận động tinh thần ở trong phủ cho nên lần này không vào chầu được. Chợt thấy có quan dương giá ban thánh chỉ đến triệu. Ngụy Trưng rất lo sợ, nhưng chẳng dám trái lệnh vua, vội vàng sửa soạn mủ áo theo quan vào chầu, cúi đầu trước vua Đường, nhưng vua Đường lại nói:

– Khanh không có tội gì cả.

Các quan đứng đấy vẫn chưa dám lui chầu, Đến bấy giờ vua Đường sai cuốn rèm tang chầu, chỉ giữ riêng Ngụy Trưng ở lại, cho lên xe Kim Loan cùng đi vào hậu cung, trước hết bàn việc yêu nhà yêu nước, đến cuối giờ tỵ đầu giờ ngọ, lại sai quan hầu mang bàn cờ ra và phán: Trẫm cũng hiền khanh đánh chơi một ván nào!

Các phi tầng bầy bàn cờ lên trên ngự án, Ngụy Trưng tạ ơn rồi ngồi đánh cờ với vua Đường, mỗi người đi một nước cờ riêng, bày thành thế trận, đúng như Kim Loan kinh đã nói:

Trong đạo đánh cờ quý ở chỗ nghiêm trang cẩn thận, người cao cờ đánh ở trung tâm, người thấp cờ đánh ở ngoài biên, người vừa vừa đánh ở các gốc. Đó là lối thường trong đạo đánh cờ.

Trong phép đánh cờ có nói là, thà thua một ván, không bỏ một quân, đánh bên trái, trông bên phải, đánh xa phải nhìn gần, trước sau phòng thủ hai đằng đều cần. Thưa không nên chống nhiều, mau không nên chặt quá. So ra, giữ quân để cầu toàn không bằng thí quân mà thủ thắng. Xét ra vô sự đấm tốt biên không bằng đem quân mà giữ thế, người nhiều mình ít, trước phải giữ nhà, người ít mình nhiều cần đưa vào thế, người khéo thắng không tranh, người khéo trận không đánh, người khéo đánh không thua, người khéo thua không cuốn. Đánh cờ trước phải thẳng thắng mà đi, sau mới lừa mẹo mà thắng. Phàm bên địch vô sự mà tự giữ là có y tấn công, bỏ nước cờ nhỏ là có chữ Mưu lớn. Những người vô mưu hạ tay là đi, đi bừa không ý, chỉ tổ chống thua.

Kinh thi có câu, rất nên thận trọng, như xuống vực xâu, vậy có thơ rang:

Bàn cờ là đất, quân là Trời
Tạo hóa âm dương, chẳng phải chơi,
Đến chỗ huyền vi thông biến ấy,
Lan Kha càn rõ đáng chê cười.


Hai người đánh cờ đến giờ ngọ ba khắc, chưa xong một ván, Ngụy Trưng bổng nhiên quỵ xuống dưới án, ngủ gáy khò khò.

– Hiền khanh thật là hết lòng gây dựng non sông, ra sức giữ nước, cho nên bất giấc ngủ gà đây.

Thái Tông cứ để cho ngủ, không hề khua dạy. Mãi một hồi lâu, Ngụy Trưng tỉnh dạy, phủ lạy dưới đất tâu:

– Hạ thần thật đáng tội chết, vừa rồi không biết thế nào tự nhiên ngất đi, mong bệ hạ tha cho hạ thần cái tội khinh quân.

– Khanh làm gì có tội khinh quân, hãy đứng dạy thôi, Xóa ván cờ trước đi, Trẫm lại đánh với khanh một ván khác vậy.

Ngụy Trưng tạ ơn vừa mới cầm cờ trên tay chợt đi. Chợt nghe thấy ngoài triều có tiếng kêu gào ầm ĩ, một lúc, Trình Thúc Bảo, Từ Mậu Công mang một cái đầu rồng hãy còn máu me nhày nhụa, đến trước mặt vua tâu:

– Tâu Bệ hạ! “Bể cạn sông khô còn có lúc, như đây sự lạ chửa từng nghe”.

Thái tông và Ngụy Trưng vội đứng dạy, Thái tông hỏi:

– Con vật ở đâu thế?

– Ở nơi ngã tư ngoài phố, cách hành lang phía nam độ một nghìn bước, 1 cái đầu rồng từ trên trời rơi xuống, Hạ thần phải mang đến tâu, Vua Đường hoảng sợ hỏi Ngụy Trưng:

– Vậy là thế nào?

– Bẩm, hạ thần vừa mơ chém nó xong ạ.
– Trong lúc hiền khanh chợp mắt ngủ, chân tay không thấy cựa cạy, lại không có đao kiếm, làm sao lại chém được con rồng ấy!

– Tâu chúa công, hạ thần ở bên vua hầu cờ tướng, mơ màng chợp mắt chiêm bao rời bệ hạ, cưỡi mây lành, mạnh mẽ xuất thần, Trên Oa Long Đài, con rồng kia bị gong trói giải tới, hạ thần nói, mi phạm phép trời, phải khép vào tội chết, ta vâng mệnh Trời chém đầu của mi làm lệnh.

Rồng nghe đau đớn, cụt móng, khép vây, cam chịu chết, Hạ thần vận tinh thần, vén áo, giảo bước múa gươm thần. Tiếng đao vừa đánh phập xuống, đầu rồng đã rụng ra.

Vua Thái Tông nghe tâu, trong lòng vừa mừng, vừa lo, mừng là khen thay Ngụy Trưng tài giỏi, trong triều có kẻ hào kiệt, lo gì giang sơn chẳng vững bền, sợ là trong giấc chiêm bao đã hứa cứu mạng Long vương, không dè Long vương lại bị tru diệt, đành phải gắng gượng tinh thần, truyền chỉ cho Thúc bảo bêu đầu rồng ra ngoài chợ để răn dân chúng ở Trường An, một mặt hậu thưởng Ngụy Trưng.

Rồi các quan đều lui bước ra về, Vua Đường về đến cung, trong lòng lo lắng, nghĩ đến con rồng trong giấc mộng kếu khóc cầu cứu, ngờ đâu việc xảy ra không tránh khỏi tai nạn. Ngẫm nghĩ hồi lâu thấy trong người mệt mỏi khó chịu. Cuối canh hai đêm hôm ấy, bổng nghe thấy tiếng kêu khóc ngoài cửa cung, Thái tông càng thêm kinh sợ, đương lúc thiêu thiêu thấy Long vương tay cầm một cái đầu máu nhầy nhụa kêu to:

– Đường Thái Tông trả mạng ta đây! trả mạng ta đây! Đêm qua vì người nhận lời cứu ta, sáng nay sao còn lại sai quan Nhâm tào chém đầu ta. Ngươi hãy ra đây để ta với ngươi cùng đến Diêm vương biện bạch.

Y nắm chặt lấy Thái tông, hai bên giành co quát tháo, không chịu buông ra, Thái tông không còn nói vào đâu được nữa, cũng tót cả mồ hôi.

Đang lúc giằng co; thì trên khoảng trời phía chính nam, có mây thơm ngào ngạt, sương mù lững lờ, có một vị Chân nhân tiếng đến, cầm cành dương liễu phất một nhác, con rồng không đầu kia liền kêu khóc ra khỏi cửa Tây.

Thì ra đó là đức Quan Âm bồ tát vâng chỉ Phật đến đông độ tìm người lấy kinh, nghỉ lại ở miếu thổ địa trong thành Trường An, đêm nghe thấy quỷ khóc thần gào, mới tới đuổi con rồng nghiệp chướng kia đi, cứu thoát nhà vua.

Con rồng kia không chịu thôi, lại xuống cõi Âm phủ kiện vua Đường.

Truyện trên đây là trích thuật từ “Truyện Tây du” của Ngô Thừa Ân. Theo truyện Tây du, Long vương xuống âm phủ kiện cho được vua Đường thái tông, Diêm vương phải mời hồn Thái tông xuống đối chất.

Lúc sống, Ngụy Trưng có bạn thân là Thôi Giác, nay chết làm chức Phán quan ở dưới âm ty giữ sổ sinh tử ở Phong Đô, trong giấc chiêm bao thường gặp gở chuyện trò cùng Ngụy Trưng, bèn gửi cho Thái tông một phong thư trước lúc xuống âm ty đưa cho phán quan Thôi Giác nghĩ đến nghĩa cũ lúc sống mà trả Thái tông về lại dương gian.

Sau, đến gặp Nhất điện Tần Quảng vương cho hay con rồng ấy hồi mới đầu thai, đã định số của nó là sau chết về tay Ngụy Trưng, chúng tôi có hay trước, ngặt nó cáo mãi, nên phải vời Bệ Hạ xuống đối nại cho ba cõi công đồng, chứ đã cho Long vương đi chuyễn sinh sớm rồi.

Thôi phán quan xem trong sổ sinh tử thấy vua Đường đã hết mệnh, lên ngôi chỉ đúng mười ba năm, bèn thêm 2 nét nữa vào thành chữ tam, đổi thành ba mươi ba năm, rồi cho về dương thế.

Sau để tạ ơn, vua Đường cho Lưu Toàn xuống Diêm phủ dâng bí, câu chuyện Lưu toàn dâng bí có ghi lại trong Liêu Trai chí Dị của Bồ Tùng Linh, chuyện đến đây còn dài, các bạn tìm đọc sẽ rõ.

Bài viết tổng hợp từ Truyện Tây Du do Bạch Minh diễn đọc, cuốn Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân và cuốn Điển hay tích lạ của Nguyễn Tử Quang.

http://tinhhoa.net/28456-cau-chuyen-nguy-trung-xu-tram-long-vuong-tay-du-ky.html

...

"Niên hiệu Trinh Quán năm thứ 13, gần thành Trường An có sông Kinh Hà nước trong, có một người thuyền chài tên gọi là Trương Tiêu, có người bạn đốn củi là Lý Định. Một lần Trương Tiêu khoe rằng mình quen biết một ông thầy bói giỏi tên là Viên Thủ Thành, thường xuyên chỉ chỗ câu được nhiều cá lớn. Không ngờ Long vương nghe được chuyện, rất tức giận, cho rằng như vầy thì tôm cá ở sông sẽ bị vây bắt hết, liền cải trang vào thành coi xem Viên Thủ Thành bói xem thời tiết ngày mai ra sao.

Viên Thủ Thành bói rằng "giờ Thìn thì có mây, giờ Tỵ có sấm, giờ Ngọ thì mưa, giờ Mùi thì tạnh, mưa được là ba thước ba tấc, lẻ bốn mươi tám giọt". Long Vương cười nhạt, hôm sau cố tình làm sai lệch giờ và lượng mưa, rồi toan đập phá hàng bói của họ Viên, họ Viên lạnh nhạt nói rằng "Người dám cãi lệnh trời, khó thoát khỏi lưỡi đao ở Oa Long Đài, giờ Ngọ ngày mai sẽ bị quan Nhâm tào là Ngụy Trưng chém đầu. Ngụy là quan tể tướng, ngươi còn không mau đến cầu cứu nhà vua?". Long Vương run sợ, ngay tối hôm đó đến cầu xin nhà vua trong giấc mơ, Thái Tông hứa tha cho. Hôm sau, vua hỏi Từ Mậu Công (Từ Thế Tích) về giấc mơ đêm qua, Tích khuyên vua mời Ngụy Trưng đến cùng chơi cờ.

Hai người đánh cờ đến giờ ngọ ba khắc, chưa xong một ván, Ngụy Trưng bổng nhiên quỵ xuống dưới án, ngủ gáy khò khò. Thái Tông nói:

- Hiền khanh thật là hết lòng gây dựng non sông, ra sức giữ nước, cho nên bất giấc ngủ gà đây.

 
Thái Tông cứ để cho ngủ, không hề lay dậy. Mãi một hồi lâu, Ngụy Trưng tỉnh dậy, phủ lạy dưới đất tâu:

- Hạ thần thật đáng tội chết, vừa rồi không biết thế nào tự nhiên ngất đi, mong bệ hạ tha cho hạ thần cái tội khinh quân.

- Khanh làm gì có tội khinh quân, hãy đứng dậy thôi. Xóa ván cờ trước đi, Trẫm lại đánh với khanh một ván khác vậy.

Chợt nghe thấy ngoài triều có tiếng kêu gào ầm ĩ. Tần Thúc Bảo, Từ Mậu Công mang một cái đầu rồng từ trên trời rơi xuống hãy còn máu me nhầy nhụa, đến trước mặt tâu vua.

Vua ngạc nhiên, Ngụy Trưng tâu rằng "Thần ở bên vua hầu cờ, mơ màng chợp mắt chiêm bao, cưỡi mây lành, mạnh mẽ xuất thần, Trên Oa Long Đài, con rồng kia bị trói giải tới, hạ thần nói, mi phạm phép trời, phải khép vào tội chết, ta vâng mệnh Trời chém đầu của mi làm lệnh. Rồng nghe đau đớn, cụt móng, khép vây, cam chịu chết, Hạ thần vận tinh thần, vén áo, rảo bước múa gươm thần. Tiếng đao vừa đánh phập xuống, đầu rồng đã rụng ra".

Vua liền sai ban thưởng cho Ngụy Trưng.

Kinh Hà Long vương oan ức, đến đòi mạng với Đường Thái Tông, rồi kiện vua với Diêm Vương, hồn vua phải xuống đối chất. Lúc sống, Ngụy Trưng có bạn thân là Thôi Giác, nay chết làm chức Phán quan dưới âm ty giữ sổ sinh tử, trong giấc chiêm bao thường gặp gỡ cùng chuyện trò, Ngụy Trưng bèn gửi cho Thái Tông một phong thư trước lúc xuống âm ty đưa cho Thôi Giác nghĩ đến nghĩa cũ mà trả vua về dương gian. Giác còn ghi thêm tuổi thọ cho vua.


Để tạ ơn, Thái Tông cho Lưu Toàn xuống Diêm phủ dâng bí, câu chuyện "Lưu Toàn dâng bí" có ghi lại trong Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh.


https://www.youtube.com/watch?v=FxhXq71hT-Q
 
 

Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn

Ngã chia làm 2: bản ngã (vọng tâm) và chơn ngã (chơn tâm). Quán chiếu nội tâm, tìm Bản Tâm, Vọng Tâm mà biến, hiện Chân Tâm. Chân Tâm rạng r...