Monday, July 30, 2018

KHAI QUẬT CỔ MỘ VÀ HẬU QUẢ KHÔNG LƯỜNG - AI CẬP HUYỀN BÍ

Những người khai quật các mồ mả của xứ cổ Ai Cập đã giải tỏa những sức mạnh nguy hiểm cho thế gian. Những nhà khảo cổ cũng như những kẻ đào mồ để cướp của, đã vô tình khai quật mồ mả của những kẻ ngày xưa thực hành khoa tả đạo bàng môn.
 
Trong hầu hết mọi trường hợp, trước khi chết mỗi người đều lo sắp đặt mọi việc và đã chuẩn bị sẵn ngôi mộ của mình từ khi còn sống. Khi đã sắp đặt xong thì đương sự hoặc một vị tăng lữ thông thạo khoa pháp môn mới kêu gọi một âm binh hay quỉ thần, có khi là một vị thần tốt lành nhưng thường thì là thần hung ác, để bảo vệ trông nom cái xác ướp của y và làm thần canh gác giữ mồ.
 
Trong trường hợp xác ướp là của một người có ít nhiều hiểu biết về khoa pháp môn hoặc đặt dưới sự trông nom của các nhà phù thủy, thì những vị thần linh được kêu gọi để giữ gìn mồ mả và trừng phạt những kẻ đào mồ.


Những phù phép bí mật đó thường là vô cùng nguy hiểm nhưng rất hiệu nghiệm. Những mãnh lực thần bí của nó vẫn có trong những ngôi mộ khép chặt và có thể tiếp tục tồn tại ở trong đó suốt nhiều ngàn năm. Bởi vậy những nhà khảo cổ vô tình khai quật những mồ mả đó sẽ chuốc lấy những điều tai họa hiểm nghèo.
 
Nhưng nếu cơ nguy đó chỉ hăm dọa sự an toàn tính mạng của các nhà khảo cổ và gia đình họ mà thôi thì điều mà tôi muốn nói đây không có gì quan trọng lắm. Trái lại, vấn đề này có liên hệ đến sự an toàn của toàn thể thế giới. Ðó là vì trong số những ngôi mộ của các nhân vật quyền quí và tăng lữ mà người ta khai quật lên, có những mồ mả được đặt dưới sự giữ gìn và bảo vệ nói trên. Từ trong các ngôi mộ đó, hằng hà sa số những âm binh ác quỷ bị giam hãm trong ấy từ lâu, bèn kéo ra tràn đầy khắp nơi ở cõi thế gian. Mỗi xác ướp được bốc ra và chở về những viện bảo tàng bên Âu Mỹ có mang theo những vị thần linh cùng với cái ảnh hưởng khốc hại của nó.



Ðiều đó chỉ có thể đem đến cho thế giới những hậu quả tai hại, hậu quả với những tính chất khác nhau, thậm chí có thể gây một ảnh hưởng phá hoại đối với vận mệnh các quốc gia.
 
Những người Tây phương vì không có phương pháp tự vệ chống lại nên đành chịu bất lực trước những kẻ vô hình đó. Khi thế giới chúng ta hiểu rằng có nhiều thần linh hung ác bị nhốt trong những ngôi mộ cổ, thì chừng đó có thể đã là quá trễ. Vì lúc đó tất cả các mồ mả đều đã bị khai quật và những hung thần ác quỉ đã thoát ra khỏi mồ. Chúng có thể gây nhiều điều ác hại cho thế gian, và ngoài ra chúng còn gây nên những vụ phản bội trên lãnh vực quốc tế. Sự mù quáng của con người đối với những luật thiên nhiên không vì thế mà không đem sự đau khổ cho những kẻ vi phạm. Không biết gì về những mãnh lực khốc hại của khoa pháp môn phù thủy không phải là một lý do để tránh cho thế kỷ này khỏi bị cái hậu quả trừng phạt dành cho những kẻ đột nhập vào những chốn thâm nghiêm, một hành động tò mò không cần thiết chút nào cho họ.
 
Những vật gì mà người ta lấy ra từ trong các ngôi mộ cổ cùng với những xác ướp, vàng ngọc, bùa chú, y phục... đều có thấm nhuần cái ảnh hưởng thần bí của ngôi mộ. Nếu ảnh hưởng đó không phải do người ta đã dùng phù phép trấn ếm quỉ thần thì việc khai quật mồ mả không có hậu quả gì, còn nếu ngôi mộ có thần linh gìn giữ thì việc đào mồ cướp của sẽ gây nên tai họa hiểm nghèo. Những nhà khảo cổ và Ai Cập học trái lại, thường không biết rõ điều đó và không biết phân biệt những ngôi mộ nào là có phù phép trấn ếm và ngôi mộ nào là không, nên họ khai quật luôn cả thứ nọ cũng như thứ kia.


Nhưng dù người ta có biết hay không, tôi cũng muốn đưa ra cho thế giới một thông điệp này: “Chớ nên động chạm đến các ngôi mộ cổ mà người ta không hiểu được tính chất hiển linh huyền bí của nó.” Người đời phải dừng tay lại ngay, không nên khai quật các mồ mả cho đến khi nào họ có được sự hiểu biết đầy đủ để nhận định được những hậu quả khốc hại của điều mà họ muốn làm.
 
Trong những năm tới đây, thế giới còn phải đau khổ nhiều và phải chịu hậu quả những sự xúc phạm mồ mả của những bậc tiền nhân thời cổ Ai Cập.
 
Vậy ông hãy ghi chép và truyền bá những lời cảnh cáo này. Bây giờ ông đã hiểu lý do của sự gặp gỡ giữa chúng ta. Dẫu cho chúng ta có bị sự chống đối, khinh bị do sự dốt nát vô minh của người đời, ta cũng làm xong bổn phận mình, bổn phận của tôi, và nếu ông muốn, đó sẽ là bổn phận của ông. Ðịnh luật thiên nhiên vốn không tha thứ sự vô minh, dốt nát, nhưng trong vấn đề này, thậm chí đến cái lý lẽ đó người ta cũng không được viện ra để tự bào chữa cho mình.


Thông điệp của chân sư Ramak-Hotep đã chấm dứt. Tôi đã ghi chép lại đúng y nguyên văn và trình bày nơi quyển sách này.
 
 
- Tôi muốn các ông ghi nhận một điều này, các ông có thể coi đó như một lời tiên đoán hay cảnh cáo trước cũng được. Thời gian sắp đến sẽ là một giai đoạn cực kỳ tiến bộ về tri thức, nhưng thoái bộ về tâm linh. Mọi sự hiểu biết chỉ nhắm vào hiện tượng thay vì nguyên nhân bản chất. Do đó, nền khoa học tương lai không thể chuyển biến được lòng người hoặc giúp cho con người có cái nhìn sáng suốt, có được một tâm hồn bình an. Nền “khoa học hiện tượng” chỉ kích thích giác quan, cảm xúc hướng ngoại sẽ khiến cho con người cực kỳ bất mãn, lo âu và trở nên hoang mang phiêu bạt.
 
- Thêm vào đó, sự khai quật các ngôi cổ mộ Ai cập sẽ tháo củi xổ lồng cho vô số âm binh, các động lực cực kỳ hung dữ. Như tôi vừa kể với các ông, thời kỳ chót của nền văn minh Ai cập, các giáo sĩ đã thực hành tà thuật tối đa, mà khoa ướp xác là một bí thuật mang sự liên lạc của cõi vô hình vào cõi trần. Tất cả các ngôi mộ cổ đều là nơi giam giữ các động lực vô hình để canh giữ, duy trì ảnh hưởng tà môn. Khi được tháo củi xổ lồng, chúng sẽ mang nền tà giáo cổ Ai cập trở lại thế kỷ này. Dĩ nhiên, dưới một hình thức nào nó hợp thời hơn.
 
- Một số pháp sư vốn là sứ giả cõi âm sẽ đầu thai trở lại, hoặc nhập xác để tác oai, tác quái, tái tạo một xã hội tối tăm, sa đoạ, đi ngược trào lưu tiến hoá của thượng đế. Thế giới sẽ trở thành nạn nhân của thứ tôn giáo ma quái này.. Chiến tranh, đau khổ, bất an cùng các kích thích của cảm giác mới lạ do nền “khoa học hiện tượng” mang lại, sẽ thúc đẩy con người vào các cùng cực của cuộc sống. Trong thời buổi này, khối óc lý trí không giúp được gì mà chỉ có sự hiểu biếtý thức bản chất thầm lặng của nội tâm mới đáp ứng được. Đó là lối thoát duy nhất mà thôi.
 
Giáo sư Allen ngắt lời :
 
- Nhưng đã có bằng chứng gì về sự hiện diện của các động lực vô hình này. Làm sao có thể cảnh cáo mọi người về sự trở lại của pháp sư thời cổ ? Người Âu Mỹ sẽ chẳng bao giờ chấp nhận một điều hoang đường, vô lý nếu không có bằng chứng rõ rệt.
 
Hamud mỉm cười bí mật :
 
- Cõi âm là đối tượng nghiên cứu của tôi, nên tôi có thể trình bày một vài dữ kiện để các ông suy nghiệm, như một bằng chứng. Chuyện xảy ra đã bắt đầu xảy ra, theo thời gian các ông sẽ thấy. Dù các pháp sư tà đạo thời cổ này có khéo léo dẫn dụ con người bằng những danh từ hoa mỹ, những chủ thuyết đẹp đẽ thế mấy đi nữa, thì họ vẫn chỉ có thể sống như một con người. Dù thế nào họ cũng không thể bỏ qua các thói quen cũ của quá khứ, họ sẽ đội lốt tôn giáo, họ sẽ kêu gọi sự hợp tác của thần quyền, họ sẽ đặt ra các giáo điều mới, thay thế các chân lý cao đẹp để lôi kéo con người từ bỏ thượng đế. Họ sẽ sử dụng danh từ, ngôn ngữ để đánh lạc hướng mọi người, tuy nhiên trước sau gì họ cũng phải chết và trước khi chết, họ sẽ di chúc yêu cầu ướp xác họ và xây dựng những nhà mồ vĩ đại bằng đá như họ đã từng làm trong quá khứ…
 
Giáo sư Allen bật cười :
 
- Như vậy thì nhận diện họ quá dễ, nhưng tôi không tin thời buổi này còn ai ướp xác, xây cất nhà mồ như vậy, ông nên nhớ chúng ta đã bắt đầu vào thế kỷ 20, không phải tám ngàn năm trước?
 
Hamud mỉm cười :
 
- Rồi các ông sẽ thấy, tôi mong các ông ghi chép những điều này cẩn thận rồi đúng hay sai thời gian sẽ trả lời.
 

Friday, July 27, 2018

Lời cảnh báo của vị Thiền sư trước khi lâm chung

Một vị thiền sư trước khi lâm chung đã bày tỏ sự sám hối về những việc đã từng làm trong suốt cuộc đời của mình, cũng là lời cảnh báo cho tất cả những người đã và sẽ bước đi trên con đường tu luyện.
 
Vị thiền sư ấy là một người bạn thâm giao nhiều năm của tôi, mắc phải bệnh nan y, trong thiền định mà đối mặt với cái chết, cũng như tham ngộ về cái chết.
 
Vốn là bạn tốt của nhau, trước lúc ông qua đời, tôi thường xuyên đến thăm và lắng nghe những lời chỉ bảo từ ông ấy. Mỗi lần tôi đến, thấy ông luôn ngồi ngay ngắn, trên gương mặt tiều tụy luôn mỉm cười.
 
Chúng tôi ngồi xuống nói chuyện, ông nói: “Cả một đời của tôi đắm chìm trong hư danh. Tuy nhìn bề ngoài rất có tiếng tăm, cũng xuất bản sách, cũng có người theo tôi học Phật, nhưng tôi biết rõ, bản thân mình vốn không thật sự giác ngộ, cũng không thấy được chân ngã của mình, bây giờ nghĩ lại mới thấy tưởng thông minh lại bị thông minh hại”.
 
Tôi nói: “Các đấng tôn sư xưa nay, chẳng phải cũng có những người đã đắc Đạo trước lúc lâm chung hay sao?”
 
Ông nói: “Đó là người đại căn khí, buông bỏ vạn duyên, tâm hồn thanh tịnh, không giống loại tiểu căn khí như tôi. Cả đời này của tôi, chính vì rất thông minh, rất có tài, rất có tình, vì vậy mà có quá nhiều thứ không thể buông bỏ được.”
 
Tôi lại hỏi: “Thế ông gần đây tu luyện thế nào vậy? Mỗi lần tôi tới, đều thấy ông đang ngồi thiền, tôi cũng không đành lòng quấy rầy ông, chỉ đứng ở bên ngoài niệm Phật, cầu nguyện cho ông!”
 
Thiền sư cười nhạt một tiếng, nói: “Cảm ơn ông! Về chuyện sinh tử, khi nào chết, thậm chí kiếp sau đầu thai nơi nào, tôi đều đã biết được”.
 
Tôi nói: “Thế chẳng phải là ông đã tu được rất cao rồi sao, ông đã biết được khi nào sẽ chết, đầu thai nơi nào, vậy mà còn chưa khai ngộ sao?”
 
Thiền sư có chút hổ thẹn nói: “Đấy chỉ là chút bản sự cỏn con, không con chút quan hệ gì với khai ngộ cả, càng không có quan hệ với việc tìm được chân ngã của mình. Từ khi 3 tuổi, tôi đã có thể nhớ lại nhân duyên đầu thai của mình. Đời này của tôi từ sớm đã biết rõ bản thân ‘sống đến từ đâu’, một đời tu hành chỉ là muốn biết được ‘chết đi về đâu’.
 
Bây giờ có thể biết rõ ngày chết, cũng biết sau khi chết sẽ đi về đâu, chẳng qua vẫn là luân hồi làm chúng sinh trong Tam giới. Cái kiểu tu hành qua loa này nếu đem so với việc đắc Đạo hoặc khai ngộ hoặc tìm lại được chân ngã của mình thì hãy còn xa lắm”.
 
Tôi hỏi: “Vậy sao gần đây ông tinh tấn tu hành vậy?”
 
Thiền sư nói: “Một lòng sám hối những nghiệp chướng đó, tịnh hóa từ trong tâm. Tôi là một người sắp chết, mong sao trước khi chết, thanh lọc nội tâm mình, mấy tháng nay tôi không ngừng sám hối.
 
Tôi sám hối cho những nghiệp chướng tôi đã tạo ra, sám hối cho những việc làm sai trái mà tôi đã phạm phải. Sám hối bản thân mình đã không tận hiếu thật sự, sám hối bản thân mình đã làm tổn thương người thân bạn bè, sám hối bản thân đã từng nói rất nhiều lời ngông cuồng, sám hối bản thân đã từng miệng nói một đằng, tâm nghĩ một nẻo, sám hối vì tôi đã làm tổn thương về tâm hồn đối với những cô gái đã từng yêu tôi, sám hối những lời dối trá đối với đồng tu…”.
 
Thiền sư đã nói nhiều sự tình cần phải sám hối như vậy, lúc nói ông còn chảy nước mắt. Ông nói với tôi: “Một người, trước khi lâm chung mà thành tâm sám hối, chính là buông bỏ gánh nặng, nhẹ nhàng mà lên đường”.
 
Nói đến câu này, ông nở nụ cười. Ai cũng biết “lên đường” là có ý gì.
 
Ông muốn tôi tìm một cái thau bằng sắt thật lớn rồi mang những bản thảo trong suốt một đời của ông, cao chừng 1 mét, đốt trước mặt ông.
 
Giúp ông đốt bỏ ư? Tôi không đành lòng, nói: “Đây vốn là tâm huyết cả đời của ông, có bao nhiêu nhà xuất bản muốn mua bản thảo của ông, cớ sao lại muốn đốt bỏ chứ? Không phải rất tốt sao?” Tôi quả thực không muốn đốt.
 
Ông nói: “Ông không đốt, vậy thì tôi tự mình đốt. Những thứ này không có giá trị gì hết, không đốt bỏ đi thì dùng để làm gì? Tôi không đắc Đạo, những lời giải thích loạn bậy Phật Pháp kia, suy cho cùng đều chỉ là ma chướng, bản thân tôi vốn biết rất rõ.
 
Đốt bỏ những bản thảo này để tránh dẫn thế hệ sau lầm đường lạc lối, cũng là để tránh tăng thêm tội lỗi của tôi. Bản thân không có tìm được chân ngã của mình, thì hết thảy những gì mình nói ra thảy đều là “chồn cáo hoang”, ông muốn tôi bị sa vào địa ngục sao?”
 
Ông trầm tĩnh nói: “Tôi cả đời thuyết Pháp giảng Kinh, biện luận thị phi, bởi vì không đắc Đạo, không thấy được chân tướng, nói những lời lộng ngôn cùng những luận giải bất chính, giờ đây, báo ứng tại thân, mắc bệnh tại khoang miệng, thực quản, dạ dày”.
 
Mặt của ông càng ngày càng gầy gò, bởi vì ngồi thiền nên tinh thần vẫn còn đỡ một chút. Tôi cùng với ông đốt từng quyển từng quyển sách một, gồm cả nhật ký của ông, khá nhiều được dùng bút lông ghi, chữ viết vô cùng ngay ngắn.
 
Nhìn dáng vẻ điềm tĩnh và thoát tục của ông tôi rất cảm động, cũng muốn trước khi tôi chết, sẽ giống như ông, đốt hết tất cả nhật ký, bản thảo của mình không lưu giữ những thứ tạp nham, hoàn toàn sạch sẽ, không một chút lo lắng mà rời đi. Tâm tư của tôi vừa động, ông cười, nói: “Đừng học theo tôi, học tôi không có tiền đồ gì cả”.
 
Nhiều lần tôi đến, thiền sư đều nói là đang sám hối nghiệp chướng, sám hối tội lỗi trong quá khứ, ông nói với tôi: “Khẩu nghiệp là điều khó sám hối nhất, trong một đời này, tôi giảng Kinh thuyết Pháp, miệng nói ra những lời xằng bậy, nói những điều không phải về người khác, khẩu nghiệp chất cao như núi”.
 
Ông thở dài: “Cho dù khẩu nghiệp sâu nặng, tôi vẫn là muốn sám hối cho hết để cái chết được thanh thản. Xem ra, tôi còn phải chết muộn hơn một tháng so với dự tính trước đó, một tháng này chuyên dùng vào việc sám hối khẩu nghiệp. Những người tu Đạo học Phật chỉ nói thôi cũng là tạo nghiệp, huống chi tôi tạo khẩu nghiệp, nói lời không phải, tranh giành đúng sai, nói chuyện không chính đáng, không biết một tháng này có đủ để sám hối không. Chờ tôi sám hối xong rồi, chính là ngày mà tôi sẽ rời đi”.
 
Ông vừa là người bạn, vừa là người thầy trong nhiều năm của tôi nên tôi rất buồn, hỏi ông: “Ông phải đi rồi, ông có lời khuyên hay cảnh báo sau cùng gì dành cho tôi không?”
 
Thiền sư nói: “Tôi biết con đường tương lai của ông, nhưng không thể nói ra được, nếu như nói ra thì chính là hại ông vậy. Con đường tương lai ở trong lòng của ông, nếu như vào mỗi buổi tối ông có thể tĩnh tọa nhìn vào trong tâm mình thì cũng sẽ biết được thôi.
 
Kinh nghiệm trong một đời này của tôi, có thể nói cho ông hay, chính là : Nếu như bản thân không có đắc Đạo, không có khai ngộ, không có thấy được chân ngã của mình thì quyết không được làm thầy người ta. Làm thầy người ta thì sẽ hại người ta, dẫn người ta đi sai lệch thì cũng chính là làm hại sinh mệnh người đó, quả báo thật nặng nề, báo ứng của tôi chính ở trước mắt ông đây, vì vậy, quyết không được làm thầy người ta.
 
Thứ hai, nếu như ông đã khai ngộ, tìm lại được chân ngã của mình rồi, thì vẫn cần phải giữ vững chuyện tu hành. Sau khi tu được cao rồi thì mới bước ra hồng dương Phật Pháp, dẫu cho ông đã có đệ tử, thì cũng hãy nhớ đừng nên tiếp nhận cúng dường, quyết không được ngược đãi đệ tử, những chuyện trong chốn này tôi đã thấy nhiều rồi, rất nhiều người làm thầy sai khiến đệ tử giống như là đầy tớ vậy, tội ấy rất nặng.
 
Thứ ba, chớ coi thường bất kỳ người nào không hiểu Phật Pháp, dẫu cho hiểu biết của họ còn non nớt, sai lệch đi nữa thì cũng đều không thể cười nhạo người ta. Tôi trong suốt một đời này đã cười nhạo rất nhiều người có kiến giải sai lệch, kết quả bản thân đã gặp phải báo ứng. Mỗi một người chưa khai ngộ đều có thể là một vị Phật trong tương lai, một khi đã khai ngộ thì chính là Giác giả, ông há có thể cười nhạo Giác giả được? Đạo lý này tôi hiểu, nhưng cái thói xấu xa, bản tính kiêu ngạo dẫn dắt đã rước lấy không ít nghiệp chướng cho mình, hết thảy những gì sám hối trong một tháng gần đây chính là sám hối tội lỗi với những người mà tôi đã từng xem thường trước đây.
 
Thứ tư, sau này nếu như ông có gặp người khác, cho dù là các đấng tôn sư ngoại đạo đi nữa thì cũng không nên so sánh rằng ai cao ai thấp. Tại cõi người này có vô số Bồ Tát hóa thân dạy bảo người ta, ngoại đạo lẽ nào không có được Bồ Tát giáo hóa chăng? Không nên mang theo cái tâm phân biệt và thành kiến. Ông hãy một lòng lắng nghe, nhìn vào bên trong mình, trí huệ bên trong sẽ tự sinh ra, sinh mãi không ngừng. Bản thân tôi trước đây rất thích tranh luận, rất thích tranh đấu với người ta, lấy ngòi bút làm vũ khí, kết quả bản thân mắc phải ung thư vòm họng, ung thư thực quản, tội nghiệp quả thật là sâu nặng thay”.
 
Miệng ông đang nói, còn nước mắt thì không ngừng rơi, đó chính là những giọt nước mắt ân hận, giọt nước mắt thức tỉnh, cũng là những giọt nước mắt khuyên răn. Ông nhìn tôi: “Đã nhớ chưa?”. Tôi nói: “Nhớ rồi”.


Trong mười năm nay tôi cũng có một chút hư danh, đôi lúc cũng có một số người tìm đến bái tôi làm thầy, tôi nhớ kỹ lời dạy của thiền sư, trước giờ chưa từng nhận qua đồ đệ. Có người quỳ xuống dập đầu bái lạy tôi, tôi cũng vội vàng quỳ xuống dập đầu bái lạy lại. Đây đều là những lời dạy bảo của thiền sư ấy.
 
Một tháng sau, ông nói: “Tôi phải đi rồi, vẫn là chuyển sinh ở vùng Tây Bắc, vùng đó tuy nghèo, nhưng con người thật thà chất phát, gốc rễ của tâm linh Phật, Đạo rất sâu, không giống như người Giang Nam, dùng Phật, Đạo để kiếm tiền, cũng không giống như những người Đông Bắc, thực chất bên trong vốn không hề tôn kính Phật. Tôi chuyển sinh vào vùng Tây Bắc, nếu như hai anh em chúng ta có duyên, ba mươi năm sau, còn có thể gặp lại, khi ấy ông là anh cả, tôi là em trai, ông cần phải giúp tôi đấy nhé!”
 
Chúng tôi đều cười. Tôi nói: “Khi tôi học thiền với ông không có thăng tiến, ông đã từng đá tôi, lúc đó cũng là lúc tôi phải đá lại ông rồi”.
 
Ông ấy nói: “Nếu được thì hãy cứ đá mạnh một chút, mong sao dưới một cú đá này, tôi sẽ khai ngộ ngay lúc đó”.

Ông thật sự đã ra đi vào đúng cái ngày ông nhận định, nhục thể được hỏa táng. Tôi lấy một chút tro cốt của ông mang theo lúc chuyển nhà. Có một năm, tôi phát hiện cái cây mọc ngoài cửa sổ lại chính là cây hải đường, cây thu hải đường, lúc này mới đột nhiên nhớ lại bài thơ trước lúc lâm chúng của ông:


“Hải đường phong quá thiền hồn hương, mênh mông thanh thiên thị cố hương. Trở lại cầu Đạo, Đạo còn đâu? An khang phúc thọ chẳng mong cầu.”
 
Tôi bỗng nhiên ngộ ra, liền đem số tro cốt của ông rải xuống dưới cây hải đường bên ngoài cửa sổ. Trước đây chỗ đó vốn có cây thông, trồng được hai năm, do công việc của tiểu khu nên đã dời chuyển cây thông đi chỗ khác, trồng cây hải đường vào đó.
 
Được khoảng 5 năm, vào mùa hè, hải đường rậm lá, có vô số ve sầu ca hát dưới tán lá. Vào cuối thu, hoa hải đường đỏ chói, tiếng ve kêu dừng hẳn, ban đêm lại yên ắng đến lạ thường, yên ắng đến nỗi khiến người ta cảm thấy không quen với những đêm không có tiếng ve sầu, “tiếng ve ồn ào rừng muốn tĩnh, chim kêu đồi núi càng âm u”.
 
Người ta thường coi “phúc, thọ, an, khang, chết già” là năm cái phúc của đời người, vị thiền sư đó không cầu năm điều phúc ấy của nhân gian, mà chỉ cầu đại Đạo.
 
Ông ấy hiển lộ ra điều thần kì khi đoán trước nơi ở sau này của tôi, tro cốt của ông ấy sẽ thấm vào các nhánh cây hải đường. Ông nói những thứ này đều là vô thường cả, còn cách đại Đạo, cách chân ngã của sinh mệnh rất xa. Ngay đến cả tu hành như ông ấy vẫn còn chưa có thoát khỏi sinh tử, chưa có khai ngộ, chưa có tìm được chân ngã của sinh mệnh bản thân mình.
 
Khi viết bài này, thiền sư ấy đã viên tịch hơn mười năm rồi, nghĩ về chuyện tu hành của bản thân thì thật không khỏi cảm thấy xấu hổ. Vị thiền sư đó là ai vậy? Tôi không muốn nói ra tên của ông ấy, ông ấy đã đốt bỏ toàn bộ bản thảo của mình thì cũng tức là không muốn ai nhớ đến ông ấy nữa. Tôi tin tưởng rằng sẽ có một ngày, tôi sẽ gặp lại ông ấy giữa biển người mênh mông.
 
Hoàng Sâm -  dịch từ Kannewyork

Thursday, July 26, 2018

Chứng Được Thần Thông Biết Trước Ngày Chết Vẫn Chưa Thoát Khỏi Sanh Tử Luân Hồi

… Thiền sư cười nhạt một tiếng, nói: “Cảm ơn ông! Về chuyện sinh tử, khi nào chết, thậm chí kiếp sau đầu thai nơi nào, tôi đều đã biết được”.
... “Bây giờ có thể biết rõ ngày chết, cũng biết sau khi chết sẽ đi về đâu, chẳng qua vẫn là luân hồi làm chúng sinh trong Tam giới. Cái kiểu tu hành qua loa này nếu đem so với việc đắc Đạo hoặc khai ngộ hoặc tìm lại được chân ngã của mình thì hãy còn xa lắm”. 

 
Trong niên hiệu Đại Lịch (766-779) đời Đường Đại Tông, có một ẩn sĩ tên là Lý Nguyên, biến nhà thành chùa Huệ Lâm, thỉnh thiền sư Viên Trạch làm Trụ Trì. Về sau, Lý Nguyên muốn đi Tứ Xuyên triều bái núi Nga My; do vậy, bèn ước hẹn Viên Trạch cùng đi. Viên Trạch muốn theo đường Trường An đi qua Tà Cốc, đi theo đường bộ; Lý Nguyên muốn từ Kinh Châu vào Giáp Sơn, đi theo đường thủy. Hai người ý kiến bất đồng đều là vì có nguyên do. Lý Nguyên không biết chuyện của Viên Trạch, nhưng Viên Trạch hiểu rõ tâm của Lý Nguyên: Sợ đến Trường An rất có thể bị người ta ngờ vực ông ta muốn làm quan, nên Sư đi theo đường Kinh Châu.

Một ngày nọ thuyền bơi đến vùng Nam Phố, do nước sông chảy xiết nguy hiểm, trời chưa tối đã cắm thuyền. Lúc ấy, có một người đàn bà mặc áo chẽn bằng gấm, đội vò đi lấy nước. Viên Trạch vừa trông thấy bà ta, liền gục đầu, hai mắt ứa lệ. Lý Nguyên hỏi han: “Từ Kinh Châu đến đây, phụ nữ giống như thế này chẳng biết là bao nhiêu, vì sao thầy lại nẩy sanh bi cảm như thế?” Viên Trạch nói: “Ta chẳng muốn đi theo đường này tới đây chính là vì sợ gặp phải bà này. Do bà ta mang thai đã ba năm vẫn chưa sanh nở vì đợi ta đến đầu thai. Nay đã thấy rồi, không còn cách nào để trốn tránh được nữa. Xin ông ở lại mấy ngày, giúp cho tôi mau sanh và chôn tôi trong hang núi. Ba ngày sau xin đến gặp tôi. Trước mặt ông, tôi sẽ cười một tiếng để làm tin. Mười hai năm sau, đêm Rằm Trung Thu, đến ngoài chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu gặp tôi”.

Nói xong bèn thay áo, tắm gội, ngồi qua đời. Lý Nguyên có hối hận cũng không kịp, chỉ đành mai táng Viên Trạch. Ba ngày sau, đến nhà nọ để xem, quả nhiên, người đàn bà sanh được một đứa con trai. Nhân đó, đem chuyện ấy kể cặn kẽ với người ta, xin gặp mặt đứa bé, quả nhiên nó cười một tiếng làm tin. Do vậy, Lý Nguyên không còn muốn đến Tứ Xuyên nữa, quay về Lạc Kinh (Lạc Dương), về tới chùa Huệ Lâm, mới biết trước lúc Viên Trạch lên đường đã dặn dò hậu sự cặn kẽ; vì thế, càng thêm biết Ngài chẳng phải là người tầm thường! Mười hai năm sau, Lý Nguyên theo đúng ước hẹn đến Hàng Châu, tới đêm Rằm Trung Thu, đợi ở ngoài chùa Thiên Trúc. Quả nhiên, ánh trăng vừa rọi, chợt nghe bên bờ giếng Cát Hồng có đứa bé chăn trâu cỡi trâu, ca lên:

Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn,
Thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luân,
Tàm quý tình nhân viễn tương phỏng,
Thử thân tuy dị, tánh thường tồn.

(Trên đá ba sinh, vẫn nguyên hồn
Ngâm gió, thưởng trăng lọ phải bàn
Thẹn thấy người xưa tìm đến gặp
Thân này tuy khác, tánh thường còn).

Lý Nguyên liền biết nó chính là thân đời sau của Viên Trạch, liền bước đến thăm hỏi: “Ngài Viên Trạch mạnh giỏi hay chăng?” Đứa bé chăn trâu đáp: “Ông Lý quả thật là người đáng tin tưởng!” Nói chuyện sơ sài mấy câu xong, lại xướng rằng:

Thân tiền thân hậu sự mang mang,
Dục thoại nhân duyên khủng đoạn trường.
Ngô Việt giang sơn du dĩ biến,
Khước hồi yên trạo, thượng Cù Đường.

(Thân trước, thân sau sự vấn vương
Bàn chuyện nhân duyên luống đoạn trường
Ngô,Việt giang sơn chơi khắp cả,
Gác chèo mây khói, vượt Cù Đường)

Rồi cưỡi trâu đi mất. Như vậy, thấy được rằng: Viên Trạch có bản lãnh biết chuyện quá khứ, vị lai và “ngồi mất, đứng thác”, nhưng vẫn chưa thể liễu thoát sanh tử!




 
Khoa học thực dụng đã chứng minh nhiều loài động vật có khả năng dự báo được thiên tai hoặc biết trước cái chết, chẳng hạn khi tổ kiến được đôn cao sẽ có mưa lớn, chuồn chuồn bay thấp thì mưa, hay chuyện báo chí đưa tin về một con mèo ở Mỹ có thể dự báo chính xác cái chết bằng cách đến bên bệnh nhân đang trong giai đoạn hấp hối cho đến khi người này chết… ông Khanh lý giải.

Cũng theo ông Khanh, việc chim lợn kêu rồi có người chết có thể là đặc tính của loài này. Bởi thông thường, con người sẽ phát ra một thứ sóng điện từ. Với người sắp chết sẽ có một thứ sóng (mùi vị) rất đặc trưng mà chỉ một số người hoặc một số loài vật mới nhận ra, trong đó có chim lợn. “Cũng giống như việc bác sĩ bắt mạch sẽ biết tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân hay chuyện kền kền chuyên ăn xác thối phát hiện ra nguồn thức ăn của mình”, ông Khanh nói.


Một vị thiền sư trước khi lâm chung đã bày tỏ sự sám hối về những việc đã từng làm trong suốt cuộc đời của mình, cũng là lời cảnh báo cho tất cả những người đã và sẽ bước đi trên con đường tu luyện.
 
Vị thiền sư ấy là một người bạn thâm giao nhiều năm của tôi, mắc phải bệnh nan y, trong thiền định mà đối mặt với cái chết, cũng như tham ngộ về cái chết.
 
Vốn là bạn tốt của nhau, trước lúc ông qua đời, tôi thường xuyên đến thăm và lắng nghe những lời chỉ bảo từ ông ấy. Mỗi lần tôi đến, thấy ông luôn ngồi ngay ngắn, trên gương mặt tiều tụy luôn mỉm cười.
 
Chúng tôi ngồi xuống nói chuyện, ông nói: “Cả một đời của tôi đắm chìm trong hư danh. Tuy nhìn bề ngoài rất có tiếng tăm, cũng xuất bản sách, cũng có người theo tôi học Phật, nhưng tôi biết rõ, bản thân mình vốn không thật sự giác ngộ, cũng không thấy được chân ngã của mình, bây giờ nghĩ lại mới thấy tưởng thông minh lại bị thông minh hại”.
 
Tôi nói: “Các đấng tôn sư xưa nay, chẳng phải cũng có những người đã đắc Đạo trước lúc lâm chung hay sao?”
 
Ông nói: “Đó là người đại căn khí, buông bỏ vạn duyên, tâm hồn thanh tịnh, không giống loại tiểu căn khí như tôi. Cả đời này của tôi, chính vì rất thông minh, rất có tài, rất có tình, vì vậy mà có quá nhiều thứ không thể buông bỏ được.”
 
Tôi lại hỏi: “Thế ông gần đây tu luyện thế nào vậy? Mỗi lần tôi tới, đều thấy ông đang ngồi thiền, tôi cũng không đành lòng quấy rầy ông, chỉ đứng ở bên ngoài niệm Phật, cầu nguyện cho ông!”
 
Thiền sư cười nhạt một tiếng, nói: “Cảm ơn ông! Về chuyện sinh tử, khi nào chết, thậm chí kiếp sau đầu thai nơi nào, tôi đều đã biết được”.
 
Tôi nói: “Thế chẳng phải là ông đã tu được rất cao rồi sao, ông đã biết được khi nào sẽ chết, đầu thai nơi nào, vậy mà còn chưa khai ngộ sao?”
 
Thiền sư có chút hổ thẹn nói: “Đấy chỉ là chút bản sự cỏn con, không con chút quan hệ gì với khai ngộ cả, càng không có quan hệ với việc tìm được chân ngã của mình. Từ khi 3 tuổi, tôi đã có thể nhớ lại nhân duyên đầu thai của mình. Đời này của tôi từ sớm đã biết rõ bản thân ‘sống đến từ đâu’, một đời tu hành chỉ là muốn biết được ‘chết đi về đâu’.
 
Bây giờ có thể biết rõ ngày chết, cũng biết sau khi chết sẽ đi về đâu, chẳng qua vẫn là luân hồi làm chúng sinh trong Tam giới. Cái kiểu tu hành qua loa này nếu đem so với việc đắc Đạo hoặc khai ngộ hoặc tìm lại được chân ngã của mình thì hãy còn xa lắm”.
 
Tôi hỏi: “Vậy sao gần đây ông tinh tấn tu hành vậy?”
 
Thiền sư nói: “Một lòng sám hối những nghiệp chướng đó, tịnh hóa từ trong tâm. Tôi là một người sắp chết, mong sao trước khi chết, thanh lọc nội tâm mình, mấy tháng nay tôi không ngừng sám hối.
 
Tôi sám hối cho những nghiệp chướng tôi đã tạo ra, sám hối cho những việc làm sai trái mà tôi đã phạm phải. Sám hối bản thân mình đã không tận hiếu thật sự, sám hối bản thân mình đã làm tổn thương người thân bạn bè, sám hối bản thân đã từng nói rất nhiều lời ngông cuồng, sám hối bản thân đã từng miệng nói một đằng, tâm nghĩ một nẻo, sám hối vì tôi đã làm tổn thương về tâm hồn đối với những cô gái đã từng yêu tôi, sám hối những lời dối trá đối với đồng tu…”.
 
Thiền sư đã nói nhiều sự tình cần phải sám hối như vậy, lúc nói ông còn chảy nước mắt. Ông nói với tôi: “Một người, trước khi lâm chung mà thành tâm sám hối, chính là buông bỏ gánh nặng, nhẹ nhàng mà lên đường”.
 
Nói đến câu này, ông nở nụ cười. Ai cũng biết “lên đường” là có ý gì.
 
Ông muốn tôi tìm một cái thau bằng sắt thật lớn rồi mang những bản thảo trong suốt một đời của ông, cao chừng 1 mét, đốt trước mặt ông.
 
Giúp ông đốt bỏ ư? Tôi không đành lòng, nói: “Đây vốn là tâm huyết cả đời của ông, có bao nhiêu nhà xuất bản muốn mua bản thảo của ông, cớ sao lại muốn đốt bỏ chứ? Không phải rất tốt sao?” Tôi quả thực không muốn đốt.
 
Ông nói: “Ông không đốt, vậy thì tôi tự mình đốt. Những thứ này không có giá trị gì hết, không đốt bỏ đi thì dùng để làm gì? Tôi không đắc Đạo, những lời giải thích loạn bậy Phật Pháp kia, suy cho cùng đều chỉ là ma chướng, bản thân tôi vốn biết rất rõ.
 
Đốt bỏ những bản thảo này để tránh dẫn thế hệ sau lầm đường lạc lối, cũng là để tránh tăng thêm tội lỗi của tôi. Bản thân không có tìm được chân ngã của mình, thì hết thảy những gì mình nói ra thảy đều là “chồn cáo hoang”, ông muốn tôi bị sa vào địa ngục sao?”
 
Ông trầm tĩnh nói: “Tôi cả đời thuyết Pháp giảng Kinh, biện luận thị phi, bởi vì không đắc Đạo, không thấy được chân tướng, nói những lời lộng ngôn cùng những luận giải bất chính, giờ đây, báo ứng tại thân, mắc bệnh tại khoang miệng, thực quản, dạ dày”.
 
Mặt của ông càng ngày càng gầy gò, bởi vì ngồi thiền nên tinh thần vẫn còn đỡ một chút. Tôi cùng với ông đốt từng quyển từng quyển sách một, gồm cả nhật ký của ông, khá nhiều được dùng bút lông ghi, chữ viết vô cùng ngay ngắn.
 
Nhìn dáng vẻ điềm tĩnh và thoát tục của ông tôi rất cảm động, cũng muốn trước khi tôi chết, sẽ giống như ông, đốt hết tất cả nhật ký, bản thảo của mình không lưu giữ những thứ tạp nham, hoàn toàn sạch sẽ, không một chút lo lắng mà rời đi. Tâm tư của tôi vừa động, ông cười, nói: “Đừng học theo tôi, học tôi không có tiền đồ gì cả”.
 
Nhiều lần tôi đến, thiền sư đều nói là đang sám hối nghiệp chướng, sám hối tội lỗi trong quá khứ, ông nói với tôi: “Khẩu nghiệp là điều khó sám hối nhất, trong một đời này, tôi giảng Kinh thuyết Pháp, miệng nói ra những lời xằng bậy, nói những điều không phải về người khác, khẩu nghiệp chất cao như núi”.
 
Ông thở dài: “Cho dù khẩu nghiệp sâu nặng, tôi vẫn là muốn sám hối cho hết để cái chết được thanh thản. Xem ra, tôi còn phải chết muộn hơn một tháng so với dự tính trước đó, một tháng này chuyên dùng vào việc sám hối khẩu nghiệp. Những người tu Đạo học Phật chỉ nói thôi cũng là tạo nghiệp, huống chi tôi tạo khẩu nghiệp, nói lời không phải, tranh giành đúng sai, nói chuyện không chính đáng, không biết một tháng này có đủ để sám hối không. Chờ tôi sám hối xong rồi, chính là ngày mà tôi sẽ rời đi”.
 
Ông vừa là người bạn, vừa là người thầy trong nhiều năm của tôi nên tôi rất buồn, hỏi ông: “Ông phải đi rồi, ông có lời khuyên hay cảnh báo sau cùng gì dành cho tôi không?”
 
Thiền sư nói: “Tôi biết con đường tương lai của ông, nhưng không thể nói ra được, nếu như nói ra thì chính là hại ông vậy. Con đường tương lai ở trong lòng của ông, nếu như vào mỗi buổi tối ông có thể tĩnh tọa nhìn vào trong tâm mình thì cũng sẽ biết được thôi.
 
Kinh nghiệm trong một đời này của tôi, có thể nói cho ông hay, chính là : Nếu như bản thân không có đắc Đạo, không có khai ngộ, không có thấy được chân ngã của mình thì quyết không được làm thầy người ta. Làm thầy người ta thì sẽ hại người ta, dẫn người ta đi sai lệch thì cũng chính là làm hại sinh mệnh người đó, quả báo thật nặng nề, báo ứng của tôi chính ở trước mắt ông đây, vì vậy, quyết không được làm thầy người ta.
 
Thứ hai, nếu như ông đã khai ngộ, tìm lại được chân ngã của mình rồi, thì vẫn cần phải giữ vững chuyện tu hành. Sau khi tu được cao rồi thì mới bước ra hồng dương Phật Pháp, dẫu cho ông đã có đệ tử, thì cũng hãy nhớ đừng nên tiếp nhận cúng dường, quyết không được ngược đãi đệ tử, những chuyện trong chốn này tôi đã thấy nhiều rồi, rất nhiều người làm thầy sai khiến đệ tử giống như là đầy tớ vậy, tội ấy rất nặng.
 
Thứ ba, chớ coi thường bất kỳ người nào không hiểu Phật Pháp, dẫu cho hiểu biết của họ còn non nớt, sai lệch đi nữa thì cũng đều không thể cười nhạo người ta. Tôi trong suốt một đời này đã cười nhạo rất nhiều người có kiến giải sai lệch, kết quả bản thân đã gặp phải báo ứng. Mỗi một người chưa khai ngộ đều có thể là một vị Phật trong tương lai, một khi đã khai ngộ thì chính là Giác giả, ông há có thể cười nhạo Giác giả được? Đạo lý này tôi hiểu, nhưng cái thói xấu xa, bản tính kiêu ngạo dẫn dắt đã rước lấy không ít nghiệp chướng cho mình, hết thảy những gì sám hối trong một tháng gần đây chính là sám hối tội lỗi với những người mà tôi đã từng xem thường trước đây.
 
Thứ tư, sau này nếu như ông có gặp người khác, cho dù là các đấng tôn sư ngoại đạo đi nữa thì cũng không nên so sánh rằng ai cao ai thấp. Tại cõi người này có vô số Bồ Tát hóa thân dạy bảo người ta, ngoại đạo lẽ nào không có được Bồ Tát giáo hóa chăng? Không nên mang theo cái tâm phân biệt và thành kiến. Ông hãy một lòng lắng nghe, nhìn vào bên trong mình, trí huệ bên trong sẽ tự sinh ra, sinh mãi không ngừng. Bản thân tôi trước đây rất thích tranh luận, rất thích tranh đấu với người ta, lấy ngòi bút làm vũ khí, kết quả bản thân mắc phải ung thư vòm họng, ung thư thực quản, tội nghiệp quả thật là sâu nặng thay”.
 
Miệng ông đang nói, còn nước mắt thì không ngừng rơi, đó chính là những giọt nước mắt ân hận, giọt nước mắt thức tỉnh, cũng là những giọt nước mắt khuyên răn. Ông nhìn tôi: “Đã nhớ chưa?”. Tôi nói: “Nhớ rồi”.

Trong mười năm nay tôi cũng có một chút hư danh, đôi lúc cũng có một số người tìm đến bái tôi làm thầy, tôi nhớ kỹ lời dạy của thiền sư, trước giờ chưa từng nhận qua đồ đệ. Có người quỳ xuống dập đầu bái lạy tôi, tôi cũng vội vàng quỳ xuống dập đầu bái lạy lại. Đây đều là những lời dạy bảo của thiền sư ấy.
 
Một tháng sau, ông nói: “Tôi phải đi rồi, vẫn là chuyển sinh ở vùng Tây Bắc, vùng đó tuy nghèo, nhưng con người thật thà chất phát, gốc rễ của tâm linh Phật, Đạo rất sâu, không giống như người Giang Nam, dùng Phật, Đạo để kiếm tiền, cũng không giống như những người Đông Bắc, thực chất bên trong vốn không hề tôn kính Phật. Tôi chuyển sinh vào vùng Tây Bắc, nếu như hai anh em chúng ta có duyên, ba mươi năm sau, còn có thể gặp lại, khi ấy ông là anh cả, tôi là em trai, ông cần phải giúp tôi đấy nhé!”
 
Chúng tôi đều cười. Tôi nói: “Khi tôi học thiền với ông không có thăng tiến, ông đã từng đá tôi, lúc đó cũng là lúc tôi phải đá lại ông rồi”.
 
Ông ấy nói: “Nếu được thì hãy cứ đá mạnh một chút, mong sao dưới một cú đá này, tôi sẽ khai ngộ ngay lúc đó”.
 
Ông thật sự đã ra đi vào đúng cái ngày ông nhận định, nhục thể được hỏa táng. Tôi lấy một chút tro cốt của ông mang theo lúc chuyển nhà. Có một năm, tôi phát hiện cái cây mọc ngoài cửa sổ lại chính là cây hải đường, cây thu hải đường, lúc này mới đột nhiên nhớ lại bài thơ trước lúc lâm chúng của ông: “Hải đường phong quá thiền hồn hương, mênh mông thanh thiên thị cố hương. Trở lại cầu Đạo, Đạo còn đâu? An khang phúc thọ chẳng mong cầu.”
 
Tôi bỗng nhiên ngộ ra, liền đem số tro cốt của ông rải xuống dưới cây hải đường bên ngoài cửa sổ. Trước đây chỗ đó vốn có cây thông, trồng được hai năm, do công việc của tiểu khu nên đã dời chuyển cây thông đi chỗ khác, trồng cây hải đường vào đó.
 
Được khoảng 5 năm, vào mùa hè, hải đường rậm lá, có vô số ve sầu ca hát dưới tán lá. Vào cuối thu, hoa hải đường đỏ chói, tiếng ve kêu dừng hẳn, ban đêm lại yên ắng đến lạ thường, yên ắng đến nỗi khiến người ta cảm thấy không quen với những đêm không có tiếng ve sầu, “tiếng ve ồn ào rừng muốn tĩnh, chim kêu đồi núi càng âm u”.
 
Người ta thường coi “phúc, thọ, an, khang, chết già” là năm cái phúc của đời người, vị thiền sư đó không cầu năm điều phúc ấy của nhân gian, mà chỉ cầu đại Đạo.
 
Ông ấy hiển lộ ra điều thần kì khi đoán trước nơi ở sau này của tôi, tro cốt của ông ấy sẽ thấm vào các nhánh cây hải đường. Ông nói những thứ này đều là vô thường cả, còn cách đại Đạo, cách chân ngã của sinh mệnh rất xa. Ngay đến cả tu hành như ông ấy vẫn còn chưa có thoát khỏi sinh tử, chưa có khai ngộ, chưa có tìm được chân ngã của sinh mệnh bản thân mình.
 
Khi viết bài này, thiền sư ấy đã viên tịch hơn mười năm rồi, nghĩ về chuyện tu hành của bản thân thì thật không khỏi cảm thấy xấu hổ. Vị thiền sư đó là ai vậy? Tôi không muốn nói ra tên của ông ấy, ông ấy đã đốt bỏ toàn bộ bản thảo của mình thì cũng tức là không muốn ai nhớ đến ông ấy nữa. Tôi tin tưởng rằng sẽ có một ngày, tôi sẽ gặp lại ông ấy giữa biển người mênh mông.
 
Hoàng Sâm -  dịch từ Kannewyork

Read more: https://hoiquanadida.com/dao-va-doi/bai-hoc-phat-phap-chung-duoc-than-thong-chua-thoat-khoi-sanh-tu-luan-hoi-2694.html#ixzz5MOloGRfM
 
 
 
 
 

THẤY MỚI TIN, KHÔNG THẤY KHÔNG TIN - KHÔNG BIẾT KHÔNG PHẢI LÀ KHÔNG CÓ

Thời kỳ đầu của nhân loại rất nhiều người nhìn thấy sự tồn tại của không gian khác, nhưng càng về sau thì số người nhìn thấy càng ít đi, cho đến khi Thuyết Vô Thần và Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng ra đời với lập luận rằng “ đâu, đâu…chứng minh đi…thấy mới tin không thấy không tin…”, thì con người gần như không còn nhìn thấy được nữa rồi, từ đó tự suy ra là không có sự tồn tại của không gian khác, tất cả chỉ là hoang tưởng, mê tín dị đoan… Ví dụ : trong các tôn giáo đều nói đến sự tồn tại của thế giới khác như : Thần, Phật, ma, quỷ…
 
Quả thật nếu giữ chặt suy nghĩ thấy mới tin thật sự là một sai lầm tai hại to lớn của đời người vì bị chấp kiến, tức là kiến thức bị cố thủ ôm chặt vào cái đúng của bản ngã mình mà không hay. Vì vậy, chúng ta hãy cứ cùng chia sẻ với nhau những cái thấy và kinh nghiệm của mình về một vấn đề nào đó, nhưng nhớ đừng bao giờ cho đó là Tôi, hoặc của Tôi, và rồi ta thấy rằng mình cần phải bảo vệ nó bằng mọi cách.

Trên đời này có nhiều chuyện không thể biết hết được, những chuyện mình không biết thì rất nhiều, do mình vô minh không có lục thông, đặc biệt nếu chưa từng nghe thấy qua, hoặc chưa từng tự mình chứng đắc. Không biết cũng không có nghĩa là không có. Sách có câu Phúc Cho Ai Không Thấy Mà Tin, đó là lời Chúa.
 
MI TIÊN VẤN ĐÁP (MILINDA PANHA) Dịch giả: Hòa thượng Giới Nghiêm (Maha Thera Thita Silo) Tỳ kheo Giới Đức hiệu đính, ấn bản 2003.
 
49. Có Phật không?
Đức vua hỏi:
- Đại đức đã thấy Phật chưa?
- Thưa chưa.
- Thầy hòa thượng, thầy tiếp dẫn của đại đức đã thấy chưa?
- Thưa, cũng chưa thấy.
- Nếu thế thì rõ ràng không có Phật trên đời này, vì chính mắt đại đức không thấy mà các bậc thầy của đại đức cũng chẳng thấy.
 
Ngài Na-tiên bèn hỏi:
- Trên núi Hy-mã có một con sông tên là Dhànadì, đại vương đã thấy con sông đó chưa?
- Thưa chưa.
- Thế thì thân phụ và các bậc tiền bối của đại vương có thấy không?
- Cũng chưa.
- Vậy thì rõ ràng con sông Dhànadì là không có, vì đại vương không thấy mà các bậc tiền bối của đại vương cũng chẳng thấy.
- Thưa, quả là có con sông Dhànadì, vì mặc dầu trẫm không thấy, các bậc tiền bối của trẫm không thấy nhưng các sách có ghi chép và những người đã từng thấy họ nói lại.
- Cũng vậy, tâu đại vương ! Bần tăng dầu chưa thấy Đức Phật; các bậc thầy của bần tăng cũng không thấy Phật; nhưng Đức Phật vẫn có, vì kinh sách, bia ký còn ghi chép sử tích và giáo pháp của ngài, lại còn nhiều vị Thánh tăng A-la- hán kể lại nữa.
- Hay lắm.
 
...
 
Hôm ấy 2 anh em nhà nọ về quê chơi, trên đường đi người em xuýt xoa chỉ cho người anh 2 con chim rất đẹp đang đậu trên cành một cái cây ở khá xa, người anh căng mắt nhìn mãi nhưng chẳng thấy chim đâu cả, bực mình nạt người em :

– Chim đâu mà chim. Mắt mày bị quáng gà rồi à ?

Người em ức lắm, rõ ràng 2 con chim còn đậu trên cành cây như vậy mà còn bị người anh nạt cho, nhưng sợ người anh nên cũng không dám nói nữa.

Như vậy người anh thay vì tự hỏi và tự kiểm tra lại mắt mình thì lại cho rằng mắt em mình có vấn đề và từ đó bảo thủ mà suy ra rằng không có tồn tại 2 con chim như người em đã nói.

Mặc dù người anh phủ nhận sự tồn tại của 2 con chim trên, nhưng nó vẫn tồn tại vì sự thật là như vậy, bất chấp là có ai nhìn thấy hoặc không nhìn thấy.

Khoa học thực chứng ngày nay dạy người ta như vậy, hầu như ai cũng cho rằng nó là đúng tuyệt đối, không cần bàn cãi : “ thấy mới tin, không thấy không tin”. Không bất cứ ai tự đặt ra câu hỏi là tại sao người khác thấy được mà mình không thấy được.


Hầu hết đều chọn cách : phủ nhận người để khẳng định mình.

Ngày nay khi công nghệ chụp ảnh đạt đến 1 trình độ nhất định, dù chưa là đỉnh điểm nhưng cũng đủ để vô tình chụp hoặc quay được những hình ảnh của không gian khác…nhưng họ vẫn khư khư ôm chết cứng cái lý của mình mà cho rằng đó chẳng qua là sự khúc xạ, phản xạ của ánh sáng ( vì máy ảnh thì không thể bị quáng gà như mắt người được)…

Nhưng khi đêm về, giữa không gian tĩnh lặng, khi chỉ còn một mình đối diện với thiên nhiên, thì họ mới chính thức trở lại với chính mình, họ sợ hãi đủ điều, từ cành cây lay động cho đến ngọn gió vô tình…

Phải chăng họ sợ chính những điều mình nói, mình khẳng định…hay họ sợ phải đối diện với sự thật ???

Tuesday, July 3, 2018

HỘI LONG HOA - TÂN SỬU 2021

Long Hoa Hội - Rằm Tháng Giêng Năm Tân Sửu 2021

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ
Ngọc Cung cha đợi đã lâu rồi,
Hoàng Thiên nhẫn đợi tru ma vương,
Thượng Ngươn Thánh Đức dời đôi bữa
Đế Vương xuống thế chuyện xong thôi


Có lúc cũng phải nhẫn chờ. Thượng Đế là tình thương, không thể ngồi một chỗ mà không cứu con ngài. Thầy thương các con, không nỡ để các con rớt lớp kỳ này. Thầy ngày đêm chờ đợi, hối thúc các con mau hành pháp mà có được cái vốn với thanh điển để vào cơ Thống Nhất Đại Đồng. Cơ sanh đến, Cha phải xuống thế mà cứu vớt các con. Ngày giờ đã định mà Cha phải ngưng cơ diệt để chờ thêm một thời gian để Cha cứu cả Xiển lẫn Triệt. Các con nhờ có pháp Niệm Phật mà trụ điển trên đỉnh đầu. Con đã biết, đất Thánh sau này là ở Việt Nam, không ở Do Thái như người ta bàn cãi ... Bây giờ các con phải mau chỉnh đốn hàng ngũ. Chuẩn bị hành trang mà đối phó với những gì sắp xảy ra trên quả địa cầu này. Chúc các con sớm đạt thanh tịnh.
(8:40 Am Sunday Feb/04/2018).

---oOo---

Đàn Cơ HỘI LONG HOA (04/Feb/2016 D.L)
 
Bạch Y đáo gót cõi ta bà,
nhơn hồn chiếc niệm Di Đà,
Tiên  phong chỉnh đốn Long Hoa Hội,
Sanh lòng từ niệm tiếp điển Bà.
Bạch Y trở lại lập Long Hoa
Hạc Tiên nghinh đón tiếp điển Bà
Đồng tử báo Đàn Long Hoa Hội
Tử rồi sống lại nhớ ơn Cha.
  
Bạch Hạc Đồng Tử xin chào chư vị Long Thần, Thổ Địa, xin chào Bạch Sĩ và chư vị Thần Thánh Tiên Phật. Nhờ ân điển của  Đức Bạch Y mà hôm nay có đàn cơ tỏ bày cảnh  Long Hoa Hội sắp tới tại miền   Nam Việt Nam. Hôm nay có điển  Đức Quan Thánh Đế Quân, đệ, Nguyên Thủy Thiên Tôn, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức Bạch Y. Xin mời  Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ra thơ cho đề tài hôm nay.
 
Quán tịnh chơn hồn đến Long Hoa
Âm dương giao hiệp Đạo mở ra
Đại hội thanh bình trong thế sự
nhơn hồn chiếc chưa nghiệm ra
Bạch Y trở lại nhờ điển cha
Y như thời cổ của Di Đà
Thần hồn trở lại trong bản thể
Chú niệm Di Đà chứng Đạo Ca.
Nhìn thế sự tâm ta đau đớn
Còn vài năm Nam Hớn trở cờ
Từng giây từng phút từng giờ
Can qua xứ xứ, bất ngờ đao binh
Nạn đao binh thình lình ập tới
Làm cho khỉ chới với mặt mày
Cuối năm Đinh Dậu  mới hay
Là cơ tận diệt thuyền quay trở về.


Mẹ thương con, hôm nay xuống điển để bày tỏ lòng lo lắng của mẹ với chúng sanh cõi Ta Bà sắp vào cơ hủy diệt. Sau cơ hủy diệt thì là cơ Đạo Đức, mở đường cho Long Hoa Hội.

Tuất, Hợi thế sự lại đổi thay
Tân Sửu tình thương đã mở bày
Long Hoa mở hội ba ngày tết
Xuân về đất Việt thật vui say.


Hội Long Hoa đã được Trời Phật phê chuẩn và chọn ngày tháng, các trò mau mà lo tu, còn chưa đầy nửa con giáp đó. Tình hình rồi đây sẽ rất là căng thẳng. Thế chiến sẽ được triển khai từ Đông Nam Á, sang tận Mỹ Quốc. Các cường quốc thi tài. Đất Việt Nam linh địa được bảo tồn bởi Trời Phật mà không bị ô nhiễm bởi bom hạt nhân. Nhưng tại vì chiến tranh đói kém, cho nên con người bị tử vong hơn một nửa. Thế giới cũng bị nặng nề. Các trò phải lo tu gấp để dự Hội Long Hoa, nhớ đó các con. Không còn bao năm, thời gian trôi qua nhanh như chớp. Chúc các con sớm đạt thanh tịnh.
 
Quan tình chi bởi đất nước suy
Thánh nhơn chưa chịu sửa tức thì
Đế ngồi hưởng lạc sao yên nổi
Quân thần đau óc tại luận suy.
Kìa đất nước lâm nguy đã tới
Rồi giặc thù chới với hôn mê
Sang Bắc chúng cõng rắn về
Hại dân, hại nước mọi bề gian nan
Bọn Trung Cộng, Bắc Hàn một thứ
Tại nghiệp chung, tại thử hạt nhân
Sau rồi dân chúng phân thân
Đáng đời bọn Cộng, không phần Long Hoa.

 
Nguyên lai Bổn Tánh, điển của Trời
Thủy chung Hồn, Vía chẳng giờ vơi
Thiên cung Mẫu dạy chi có biết
Tôn vinh đức hạnh của Phật Trời

 
Đời đạo song tu. Cần có pháp mà khử trược lưu thanh. Có pháp mà không hành thì có tội với trời đất, đó là chưa nói tới cơ tận diệt sắp tới mà các trò chưa chắc được đậu điểm để đự Hội Long Hoa.
 
Long Hoa Hội tưng bừng đang diễn
Vào năm Sửu phát triển Đạo Tâm
Vô Vi một pháp ráng tầm
Long Hoa mở hội ngày Rằm Tết Ta.

 
Hết
Ngọ giờ, ngày 4 tháng 2 năm 2016 D.L.

ĐỒ THƯ RỒNG VÀNG - TỬ VI THIÊN SỐ NĂM 1840

ĐỒ THƯ RỒNG VÀNG TRONG TỬ VI THIÊN SỐ NĂM 1840 CỦA ĐỨC BỔN SƯ NGÔ LỢI (LÀ VÌ SAO TỬ VI TINH)

Đức Vĩ Kiên qua Bạch Sĩ đã cho chúng tôi biết là Đức Bổn Sư vốn là một vị Bồ Tát nhận lệnh của Thượng Đế đã giáng lâm xuống để dạy dỗ dân tộc VN. Ngài đã dạy rất nhiều điều lợi ích trong đó có Tứ Ân và để lại Đồ Thư. Đức Bổn Sư có tên là Ngô Lợi hay Ngô Viện, sáng lập ra phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Hiện giờ là năm 2012, Đức Bổn Sư đã trở lại và mang xác phàm ở VN.

Đức Bổn Sư Ngô Lợi truyền đạo Tứ Ân Hiếu nghĩa tại trại Cây Gỗ (nay là chùa Tam Bản và Phi Lai) bị bọn giặc thực dân Pháp biết được, nên Pháp truyền lịnh tìm đủ mọi cách truy-nã Đức Bổn Sư: vì Pháp cho rằng Đức Bổn Sư là nhà ái quốc, dạy cho con người ở vùng Thất Sơn đứng lên chống lại chúng bằng hình thức đấu tranh đạo đức. Nên từ đó Đức Bổn Sư tạm xa lánh bổn đạo vùng Ba Chúc, đi qua sông Cửu Long lánh nạn tại chùa bà Năm Diệu (là đệ tử Đức Phật Thầy Tây An). Chùa bà Năm Diệu ở tại mũi Doi bên  bờ sông Tiền Giang cách chợ Vĩnh Xương theo đường biên giới Việt Miên trên 20 cây số ngàn.

Đức Bổn Sư có cất một trại lá sau hậu chùa để tiện bề nghỉ ngơi và ăn uống. Trong thời gian ở đây Ngài ăn uống có món chay, món mặn là tuỳ theo buổi chợ hàng ngày. Đặc biệt Đức Bổn Sư có sắm một cần câu để nhắp cá hàng ngày. Mỗi khi nhắp được ba con cá lóc to hay nhỏ gì cũng được là nghỉ đem về làm thức ăn, một con nướng trui, một con kho, một can nấu canh chua với rau ở đồng, và Ngài sắm liễn, rượu, trầu cau, thuốc lá, bông, trà để dâng lễ cúng:

1/- Dâng lễ cúng Tạo Hoá.

2/- Dâng lễ cúng Thiên Hoàng

3/- Dâng lễ cúng Địa Hoàng

4/- Dâng lễ cúng Nhơn Hoàng

5/- Dâng lễ cúng Tam Hoàng Cổ Đế

6/- Dâng lễ cúng cha Lạc-Long-Quân

7/- Dâng lễ cúng mẹ Âu-Cơ

8/ Dâng lễ cúng Thập-Bát-Hoàng-Đế Hùng-Vương

9/- Dâng lễ cúng 30 vị tướng Trời

10/- Dâng lễ cúng trăm Ngài Quan Thượng Đẳng Đại Thần

11/- Dâng lễ cúng trăm Ngài Chư Quan Cựu Thần

12/- Dâng lễ cúng Chư Vị Sơn Thần, Chư Vị Năm Non Bảy Núi Tà Lơn

13/- Dâng lễ cúng Đất Đai Viên Trạch, Thần Hoàng Bổn Cảnh.

14/- Dâng lễ cúng Tổ Tiên trăm họ triệu dân, con Rồng cháu Tiên Việt Nam

Thời gian đi lánh nạn đúng ba năm, Đức Bổn Sư để râu tóc, mặc áo bà ba nâu sòng và quần đáy bằng vải đen, đầu đội nón lá, trở về xây chùa Tam Bửu và Phi Lai tại trại Cây Gỗ cũ, và cho in Đồ Thư Tử Vi Thiên Số mà Ngài đã viết bằng chữ nho vào năm 1840 để lưu truyền hậu thế, và sau đó Ngài sáng lập ra Long Đình thờ Tổ Quốc tại chùa Tam Bửu. Và từ đó Đức Bổn Sứ ra đi mai danh ẩn tích cho đến ngày nay, chỉ còn lưu lại Tộc Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tôn nghiêm tại vùng Ba Chúc.

TỬ VI THIÊN SỐ

Đức Bổn Sư nhận định: Ngày cận-kim-thời-đại của Tạo Hoá trong vùng danh lam thắng cảnh ở miền Thất Sơn cho ngày mai hậu Việt Nam đất nước con người. Vào hôm tháng giêng năm 1840 tại trại Cây Gỗ Ba Chúc:

Phật Thầy truyền Hiếu Nghĩa Tứ Ân
Tam Bửu gia là nhà Tổ tinh.

ĐỨC BỔN SƯ GỞI THẦN CƠ

Hình thể Rồng vàng toàn thân ở vùng Thất Sơn thuộc miền Tây nước Việt Nam mà Tạo Hoá đã cho con Rồng cháu Tiên thụ hưởng bảy trăm ngàn năm, đời sống Thánh Đức, trọng người hiền.

Một thuở thanh bình
Trọn đời chinh chiến

Hai mươi sáu đồi núi, hòn lớn, hòn nhỏ, địa danh Thất Sơn hùng vĩ do Tổ Tiên ta đã khai sơn phá thạch từ ngàn xưa lưu truyền cho đến ngày Đức Bổn Sư ra đời kể lại năm non bảy núi như sau:

Năm Non

1- Núi Bà Đội Om

2- Núi Bà Đắc

3- Núi Tà Sư (Trà Sư)

4- Núi Cậu (Sư Cậu)

5- Núi Sam (Hòn Sam)

Bảy Núi

1- Thiên Cẩm Sơn (Bạch Hồ Sơn) - núi Ông Cấm

2- Phụng Hoàng Sơn - núi Ông Tô

3- Ngọa Long Sơn - núi Dài Giăng Liên

4- Thuỷ Đài Sơn - núi Nước

5- Liên Hoa Sơn (Kỷ Hương Sơn) - núi Tượng

6- Ngũ Hồ Sơn - núi Dài Năm Giếng

7- Anh Vũ Sơn - núi Ông Két

Năm Non Bảy Núi đã được tấn phong vào Đồ Thư Tử Vi Thiên Số, còn lại mười bốn hòn núi phụ không được tấn phong cũng nằm trong vùng Thất Sơn và đức Bổn Sư có ghi thêm:

1- Đồi Sân Công.

2- Đói Hồng Hưng.

3- Núi Nổi gần cây tâm vồ.

4- Núi Ông Tà gần núi Két.

5- Núi Vôi.

6- Núi Bà Vải.

7- Núi Đất ở Tịnh Biên.

8- Núi Rô.

9- Núi Phú Cường.

10- Núi Đất ở Yên Củ.

11- Núi Nam Quy.

12- Núi Núi Tà Bạ ở Tri Tôn.

13- Núi Thâm Đưng ở Tri Tôn.

14- Ba Ông Đá ở Vĩnh Nguơn.

HÌNH THỂ RỒNG VÀNG TOÀN THÂN

ĐIỂM THỨ NHỨT: Thạch Động ở Hà Tiên là đầu của Rồng vàng, tam tinh nằm trong hang đá, mặt Rồng có hai lỗ mũi to có đường kính tròn 21 thước, hai lổ cách nhau 12 thước ăn thông từ Thạch Động đi ngầm dưới lòng đất sâu 1,000 mét thẳng tới Thiên Cẩm Sơn (núi Ông Cấm) và xuyên cặp theo chân núi Ngoạ Long Sơn (núi Dài Giăng Liên) hiện còn dấu ẩn tích huyền bí của Tạo Hoá.

ĐIỂM THỨ HAI: Hòn Đá Dựng ở Hà Tiên gọi là Châu Nham, đó là trái châu của Rồng Vàng.

ĐIỂM THỨ BA: Núi Tô-Châu ở Hà-Tiên là sừng bên mặt của Rồng Vàng.

ĐIỂM THỨ TƯ: Núi Bình Sơn còn gọi là Trà Lăng ở Hà Tiên là sừng bên trái của Rồng Vàng.

ĐIỂM THỨ NĂM: Núi Điện Bà (Bà Đen) ở Tây Ninh là chân trước bên mặt của Rồng Vàng.

ĐIỂM THỨ SÁU: Đảo Phú Quốc là chân trước bên trái của Rồng Vàng.
 
ĐIỂM THỨ BẢY: Thiên Cẩm Sơn là thân của Rồng Vàng, do Tạo Hoá sắp đặt. Hồ Sơn là chính giữa bụng của Rồng Vàng ăn thấu vào ruột từ lâu, đó là Địa Huyệt nằm sâu kín dưới lòng đất 3000 thước có Thần Tiên đang ở giữ gìn đền vàng ngọc, cây cột cờ, lá cờ màu xanh có hình Rồng vàng ở giữa, trên đỉnh ót, và lá cờ phướn. Cột cờ và lá cờ phướn cao 36,000 thước của đời Thánh Đức Thượng-Ngươn.

ĐIỂM THỨ TÁM: Ngọa Long Sơn là đuôi của Rồng Vàng, trong núi có bảy ngã đường thông nhau, sau nầy nếu chuyển động đuôi Rồng sẽ dời qua phía Tây và có lổ tiểu tiện xà ra rất nhiều nước dơ bẩn khó chịu, vì đuôi Rồng dời qua nên có cuộc di sơn đảo hải do Tạo Hoá sắp đặt sẵn, nên trịch qua khỏi lỗ chân lông, phún nước độc ra nhiều như vậy.

ĐIỂM THỨ CHÍN: Phụng Hoàng Sơn là chân sau bên mặt của Rồng Vàng.

ĐIỂM THỨ MƯỜI: Liên Hoa Sơn còn gọi là Kỳ Hương Sơn là chân sau bên trái của Rồng Vàng. Tại núi Tượng này ngày sau Tạo Hoá giao cho Đức Phật Di Lạc chủ quyền đại hội, phân giai cấp trên Phật, Thánh, Tiên, Thần và xử phân từng người cho sanh sống đời Thượng Nguơn Thánh Đức trường tồn là 700,000 năm trên miếng đất ngọc ngà châu báu này và trân châu, mã não, san hô, hổ phách của Hoàng Đế nước việt Nam.

TÓM LẠI: Trong mười nhơn tinh gom vào một đó là toàn thân của Rồng Vàng toàn nước Việt nam gọi là Thành Tinh của vì sao Tử Vi Tinh  trong đất nước Hùng-Vương con Rồng cháu Tiên.
 Đức Bổn Sư nói:

"Hoa Trung Hưng xà Đắc Long"

Hay là: "Rắn lộn rồng nhơn dân sanh giặc"

Hoặc là: "Xà cất cẩn Tần Vương khởi chiến"

Nghĩa là sẽ có giặc Miên kéo xuống đánh giết người Việt trong năm Tỵ, sát hại tàn ác nhơn dân vô tội vì thế mà người Miên sẽ bị tiêu diệt đầu tiên. Khi Miên khởi đánh thì Rồng Vàng chuyển động cả mười điểm trên toàn thân, vì chiến tranh động nổ tàn phá lòng đất Việt Nam bị xói mẻ nên miệng Rồng Vàng phun lửa, mũi Rồng Vàng hít ngọc dương châu, cáo Trời Đất xử tiêu diệt nước Miên đại gian đại ác:

"Nam Vang nhà gạch để vôi
Ngày sau kiếm trại đá ngồi không ra"

Đúng thời kỳ Tạo Hoá cho 36 hành tinh xuất tinh, đó là 36 vị Tướng Trời ở ẩn sâu kín trong vùng Thất Sơn, nằm chờ nhận lãnh phép Trần Tiên của Tạo Hoá tấn ban cho, và cũng lo tôn vương Thánh Đức Hoàng Đế. Vào năm tấn phong nầy cũng có trăm Ngài Quản Thượng Đẳng Đại Thần, trăm Ngài Chư Quan Cựu Thần cùng Chư Vị Năm Non Bảy Núi và trăm họ triệu dân con Rồng cháu Tiên đã được Tạo Hoá chấm điểm là người hiền đức mới được sống và còn trở lại làm dân Phật Quốc trong đó:

Bên Nam: Mười người còn sống một người.
Bên Nữ: Mười người mất đi sáu, bảy người.

Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế chỉ cứu độ con người có đại công đức và đại phước đức.

Tại nước Miên khởi đánh đầu tiên vào chân và thân của Rồng nên Rồng Vàng xuất động cả toàn thân gầm thét để bảo vệ cho đất nước Việt và giống dân tộc con Rồng cháu Tiên này, vì thế mà Rồng Vàng sẽ tận lực phun lửa và hít mạnh ngọc Dương Châu ở đất Miên, cho nên nước Miên bị tiêu diệt trước, rồi kế đó nước Miến Điện. Nước Trung Hoa xúi giục Lào và Thái Lan kết hợp cùng nhau kéo đại binh đánh thẳng vào nước Việt Nam. Nước Thái Lan và Trung Hoa sau này bị Trời bắt đày và tiêu diệt mười phần còn sống một phần. Đó là năm nước láng giềng làm giặc đánh cướp nước Việt Nam:

Miên, Lào, Trung Hoa, Thái Lan và Miến-Điện.

Mạng Rồng Vàng bị ba đại nạn:

1)   Nước Miên đánh trúng vào đầu Rồng

2)   Nước Thái Lan qua đường biển đánh vào cạnh hông của Rồng nên từ đó Rồng mới xề cái đuôi ngang để đở thân, vì thế nên mới có Ngọa Long Sơn chận ngang. Lúc này núi Tượng (Liên Hoa Sơn) bị sụp phân nửa.

3)   Nước Lào đánh vào tai của Rồng quá mạnh gây nhức nhối, đồng thời Trung Hoa đánh chiếm hết các quần đảo ngoài biển Đông và chiếm luôn miền Bắc Việt Nam gây đại ác, nên viên ngọc quí Tâm Dương lặn xuống lòng đất đi, vào nằm ở toàn chân núi Bà Đen (Tây-Ninh) đở bom đạn một thời gian, nhưng sau đó núi Bà Đen cũng bị sụp phân nửa. Giặc Lào sau kết hợp với giặc Miến Điện kéo qua lần sau chiếm giữ tại núi Bà Đen và lần lần tiến vào Thất Sơn.

Đức Bổn Sư nói:

Nhứt Khổng lộn đầu chuyển động âm thanh biến mất
Cầu Trời lập trận mau mau,
Đền Vàng núi Cấm có là mừng vui
Kéo lôi thế giới khiếu xui
Qua mười tám nước mới rày xử phân

Mười tám nước còn lại xử phân là:

1- Anh                                         

2- Pháp

3- Mỹ                                          

4- Úc-Đại-Lợi

5- Tân Tây Lan                            

6- Đức

7- Gia Nã Đại                               

8- Ý-Đại-Lợi

9- Nga                                         

10- Lổ-Ma-Ni

11- Ba-Lan                                   

12- Mễ-Tây-Cơ

13- Trung Hoa                               

14- Do Thai

15- Á Căn Đình                            

16- Miến Điện

17- Nhựt Bổn                                

18- Việt Nam

Đức Bổn Sư nói: "Nước Miên mất Nước. Dân nước Miên nổi lên lần chót, kéo đại binh xưống cướp đến Tiền Giang, trong những ngày đó phải chịu vướng cảnh tối tăm của Trời Đất là mặt nhựt, mặt nguyệt không còn, nên không phân biệt được ngày đêm, bởi vì toàn thân Rồng Vàng chuyển động, rung rinh cả núi đồng, sông biển, nên xảy ra sơn băng kiệt thủy, người đang đi, đứng, ngồi, nằm đều bị ngã lăn ra chết giấc, chết giả, vì đó phép Trời, âm dương pha trộn khí nóng vô hồi, khí lạnh buốt giá, lúc đó con người trên toàn thế giới rất khó chịu, nước khi nóng lên đến 100 độ C, khi lạnh xuống 0 độ, sông, biển trên thế giới lúc dâng lên thì ngập, lúc hạ xuống thì khô kiệt, khi ấy có ngọn lửa cháy từ trên không trung cháy chụp xuống quả địa cầu này liên tục và dân chúng trên quả địa cầu phải chịu các cảnh ấy suốt bảy ngày đêm.

Ngoài đảo Phú Quốc, Vua nước Xiêm đem đại binh sang cướp chiếm và giết người Việt và cả Côn Đảo, đảo Thổ Châu, đảo Kiến Vàng cùng các đảo lớn nhỏ lân cận trong vùng. Lúc đó Vua giặc Xiêm ra lịnh khai hoang và tầm mỏ ở Phú Quốc để tìm châu báu,  ngọc ngà và cướp hết các đồ quí, bươi móc hầm hố làm hang hóc rất sâu và dài nên động đau chân rồng.

Rồng cựa quậy nên mới sụp nguyên đảo xuống biển.

Trung Hoa kéo binh sang đánh vào Rạch Giá rồi tiến thẳng vào Thất Sơn.

Toàn thân Rồng Vàng gầm thét lên và chịu lực tấn công của Âu Châu đánh phá trên năm trăm tấn bom đạn làm kiệt sức nên toàn thân Rồng Vàng gầm thét và chuyển động mạnh làm núi nứt và nổ tung ra làm thành vách của đền đài ở bụng Rồng đó là đền vàng của Thánh Đức có cây cột cờ, lá phướn với viên ngọc Phổ Lư. Trong thành gồm có một đền vàng, một đền bạc, ngoài là dãy tường thành hình vuông có bốn cửa vương đái. Một tiếng sấm, hai tiếng sấm, ba tiếng sấm, đền vàng kim cương Hoàng Đế Thánh Đức mới lộ ra tại núi Ông Cấm. Lúc đó thập bát quốc tới cướp quyền chiếm đoạt giành xé cùng với Tả đạo Bàng Môn trên năm châu thế giới kéo tới. Địa Tiên dùng phép thuật tranh giành, đủ sắc cờ vàng, đỏ, trắng, đen, xanh và cũng có đủ Tam thiên lục bá. Vì bọn chúng đã có dự bị trước nên nghe tiếng sấm thứ hai là bọn chúng đã đến cướp chân mặt của Rồng và chân trái của Rồng, đến tiếng sấm thứ ba là vàng lộ ra. Trước cửa đền vàng ở phương Bắc có cái cổng trên biển có bảng chữ nho đề:

NƯỚC ĐẠI NAM QUỐC
ÂM DƯƠNG HOÀ HIỆP
THÁNH ĐỨC HOÀNG ĐẾ

Ngay lúc đó Tạo Hoá mới ban phép lịnh Thần Tiên cho 36 vị Tướng Trời ẩn tích ra hiệp lực cùng nhau đứng ra cứu độ mạng Rồng. Phụng Hoàng Sơn sụp, chỉ có nước dâng đầy, bọn giặc Châu Âu đi qua chỉ có một đường là đại lộ Nhà Bàng, Hưng Thới, Văn Giáo, Giáo Văn rồi thẳng đến đền vàng ở núi Cấm. Vì sức cựa quậy quá mạnh của Rồng nên mới động và hỏng chân, lỏng mặt đất nên đổ vàng ra tràn lan. Từ đó giặc năm châu chia trăm hướng đánh thẳng vào.

Riêng vì Núi Tượng chịu hai hướng giặc năm châu đánh bức vào trái tim Rồng nên Rồng Vàng đầy máu đỏ vì chiến tranh ác liệt, bom đạn quá nặng nề làm nứt bể núi Tượng. Rồng Vàng chớp trái châu và đưa chân lên rước Phật, Thánh, Tiên, Thần xuống cứu thế và lập ra Bình Linh Đại Hội tại núi Tượng do Đức Phật Di Lặc chủ trì. Còn núi Tô Châu và núi Bình Sơn ở Hà Tiên là hai cái sừng của Rồng nên khi Rồng cất đầu lên thì sẽ gây náo động. Mặc dù chuyển động rung rinh nhưng hai sừng rất cứng nên không sụp hai núi nầy, còn Hà Tiên như cù lao giữa biển"

MƯỜI HAI ĐỊA HUYỆT

- Huyệt thứ nhất: Thạch Động Hà Tiên là đầu Rồng.

- Huyệt thứ hai: Đá Dựng Hà Tiên là Tô Châu.

- Huyệt thứ ba: Núi Tô Châu Hà Tiên là sừng bên mặt.

- Huyệt thứ tư: Núi Bình Sơn là sừng bên trái.

- Huyệt thứ năm: Núi Điện Bà Tây là chân trước bên trái.

- Huyệt thứ sáu: Đảo Phú Quốc là chân trước bên mặt.

- Huyệt thứ bảy: Thiên Cẩm Sơn là thân và bụng có địa huyệt ở rừng.

- Huyệt thứ tám: Ngọa Long Sơn là đuôi và bắp đùi sau.

- Huyệt thứ chín: Phụng Hoàng Sơn là chân sau bên mặt.

- Huyệt thứ mười: Liên Hoa Sơn là chân sau bên trái.

Trong mười điểm này là Thánh Tinh Địa Hoàng của Rồng.

MƯỜI SƠN HUYỆT THIÊN HÀ TINH TÚ

1- Núi Sam: Có vầng mây ngũ sắc che trên lưng Rồng, sau này sẽ xuất hiện vì sao Ngưu Tinh hiện đang ẩn trong lòng núi. Vì sức Rồng dấy động nên về sau núi Sam bị sụp, lúc đó vì sao xuất hiện lên mây sẽ có vì sao Tử Vi Tinh lộ ra mà khởi trừ Địa Tiên, Tam Thiên Lục Bá và rượt đuổi, đánh bóng phép Trời ban dọc theo lộ Nhà Bàng, Văn Giáo.

2- Núi Két: Có vầng mây che trên lưng Rồng, sau này sẽ xuất hiện ra ba vì sao. Vì sao Thiên Đức Tinh hiện ra vì bị chuyển động nên mới đem mây che trên lưng Rồng. Trên không trung sẽ hiện ra vì sao Đẩu tinh và Loan Tinh lập thành ải thiên binh đôn trấn tại Nhà Bàng, năm ngã chỉ huy chư tướng, chư thần, chư vị, chư quân dùng phép Thần Tiên do Trời ban để đón ngăn đánh nhau lần thứ nhất với giặc Âu Châu sang, lần thứ hai đánh nhau với thập bát quốc ở năm châu sang.

Riêng vì sao Thiên Đức Tinh hiệp với các vì sao nhỏ khác lập thành ải thiên binh trấn ở Vĩnh Thông dọc theo lên tới bờ kinh Vĩnh Tế để lo bề trị an và vâng lịnh Trời chọn lại môn phái nào hiền đức trong các giáo phái Tam Thiên Lục Bá. Còn vì sao Vị Tinh và Thất Tinh cũng xét xử đạo giáo ở nửa đường từ Vĩnh Thông đến Tịnh Biên.

Tạo Hoá tấn phong ba vì sao Thiên Đức Tinh, Tử Vi Tinh và Thất Tinh là vì sao Thánh Chúa, là chơn mạng của Đức Bổn Sư.

3- Núi Trà Sư: Có ba vầng mây xanh che phía dưới nên không có vì sao nào ẩn núp, nhưng cũng có nhiều tướng Trời sau này xuất hiện ra hiệp lực cùng các vì sao lập thành ải thiên binh trấn ở Nhà Bàng và Vinh Thông.

4- Núi Dài Năm Giếng: Có vầng mây vàng xanh pha trộn xuất tinh vì sao Tú Tinh Tiên Ông phái Tiên Thiên để lập Lư Bồng làm việc, nghị việc với Đức Bổn Sư và Đức Phật Thầy Tây An.

5- Ba Ông Đá: Ở đồng anh nguồn có vầng mây đen pha vầng, mây trùng sau này xuất hiện sao Khuê Tinh trấn tại Châu Đốc sát phạt kẻ thiểu phước đức, đại gian, đại ác, phản dân, phá nước khi sống, không làm tròn đạo làm người.

6- Núi Bà Đôi Om: Có vầng mây đen hắc, xuất tinh vì sao Xích Đế. Sau khi Rồng chuyển các Thánh Tinh ở các nơi xuất hiện lập thành âm binh trấn giữ các nơi xong rồi, trên không trung hiện vũ phong và ứng nhiều mây màu, sấm chớp liên tục, khi đó núi Bà Đội Om nổ tung, vì sao Xích Đế xuất hiện bay bổng lên và đi thẳng tới Phụng Hoàng Sơn cùng lập ra trận đồ để chống giặc Á Châu.

Nhựt Bổn, Trung Hoa, Đại Hàn, Phi Luật Tân, Miến Điện, Lào, Miên và Ấn Độ tấn công vào đồng bằng tiến thẳng tới đánh cướp đền vàng ở núi Ông Cấm. Đặc biệt trận nầy có cường binh Indonesia đi bằng tàu và chiến hạm đánh đường biển. Thái Lan đánh đường biển lấn chiếm Hà tiên và đổ bộ cùng đem tàu chiến tiến thẳng đường kinh Vĩnh Tế, vào Phổ, Vĩnh Gia. Bom đạn ở trận này rất ác liệt, rồi cũng bị vì sao Xích Đế trị phạt.

7- Núi Ba Thê: Có vầng mây vàng rất đậm xuất tinh vì sao Huỳnh-Đế che chở trên lưng Rồng.

Khi Rồng chuyển động sẽ xuất hiện ra vì sao Huỳnh Đế bay thẳng đến Lư Bồng phái Tiên Thiên có Tiên Ông đón tiếp cùng nghị sự với Phật để tôn vương, tấn phong Thánh Đức Hoàng Đế.

8- Núi Sập: Là hạt Ngọc Châu của Rồng Vàng  ngậm, mặc dù có chuyển động mạnh, nhưng rồi cũng không bị sụp, sau này cũng là ải biên trấn, núi Sập là bờ sông lớn, nước chảy hai chiều, ngư thuyền tấp nập trong nước.

9- Núi Trọi: Có vầng mây xanh pha lẫn màu đỏ lên, ngày Rồng chuyển động, núi Trọi nổ tung xuất hiện vì sao Thánh Đế bay đến dự hội Lư Bồng và Hội Bình Linh, xong trở về bảo hộ nơi hành thân của Rồng để giữ gìn đền vàng ở núi Cấm cho đến ngày Tạo Hoá tấn phong Thánh Đức Hoàng Đế lên ngai.

10- Núi Tà Lơn: Có vầng mây đen pha lẫn vầng mây trắng, có hai vì sao Hắc Đế và Bạch Đế ẩn. Khi Rồng Vàng chuyển động thì núi Cấm nổ tung, sẽ có vầng mây trắng xịt thẳng lên không trung bay đến hoà với vì sao Hắc Đế và Bạch Đế nổ trên không trung lộ ra vì sao Tử Vi Tinh, khi dự hội LƯ BỒNG và lễ hội Phật Bình Linh tại núi Tượng xong. Vì trong mười vầng mây che chở trên thân Rồng chuyển động theo vận hành âm dương để bay lộn cho nên núi bị động khi tan khi hiệp khác nhau, mây đủ màu trên nền trời cũng tạo ra Âm dương khắc nghiệt từ trên không xuống mặt đất, nên trái đất bị tiêu diệt tất cả để Tạo Hoá thay quả địa cầu mới.

Bảy Trăm Ngàn Năm Thiên Đàng Tại Thế Tạo Hoá Tấn Phong Mười Ba Hành Tinh:

1- Ngưu Tinh                  
2- Đẩu tinh
3- Loan tinh                    
4- Thiên Đức Tinh
 5- Thất Tinh                    
6- Vân khúc Tinh
7- Tú Tinh                      
8- Khuê Tinh
9- Xích Đế Trịnh         
10- Huỳnh Đế Tinh
11- Thanh Đế Tinh       
12- Hắc Đế Tinh
13 - Bạch Đế Tinh

Mười ba vì sao này bảo hộ Rồng Vàng. Tử Vi Tinh rồi sau này cùng giúp nước Đại Nam Quốc bảy trăm ngàn năm dưới quyền cứu độ của Phật Di Lặc; soái ngự ở Tây Phương, cầm luật Trời Đất trong Quả địa cầu 68 này được Tạo Hoá tấn phong là quả địa cầu hiền đức.

Khi chuyển động Trời Đất âm dương ầm ì thì có nổi lên Đại Hội từ lễ hội Phật ở Liên Hoa Sơn thẳng qua đền vàng kim cương Núi Cấm, có các loại bông hoa đẹp và quí mọc theo hai bên đại lộ rộng 500 thước. Ở núi Tượng (Liên Hoa Sơn) có nổi lên chùa Công Đại Nam Quốc huy hoàng rực rỡ, nhìn xem chung quanh trời, nước biển mênh mông.

Nơi trước đền Thánh Đức Hoàng Đế có nổi lên một kho chứa vàng, một kho chứa bạc để tiêu xài trong bảy trăm ngàn năm. Từ Nhà Bàng đường đại lộ vào đền vàng kim cương có nổi lên một đài sen trắng, một đài sen đỏ, một đài chuông, một đài trống và một Đình Công Đại Nam Quốc, đây là nơi để hội quần dân toàn nước theo công lệ mỗi tháng một lần vào ngày 30 cuối tháng, còn ngày 15 là ngày hội lễ Phật theo lệ tháng của toàn quốc thần dân trong nước tại Chùa Công Đức Phật Di Lặc từ Tây Phương xuống tại Chùa Công Đại Nam Quốc để thuyết pháp cho Bồ Tát và thần dân, đồng thời chủ trì đạo luật trong mười tám nước giao cho Đại Nam Quốc cầm quyền chung xét xử.

Đất nước Đại Nam Quốc rất rộng lớn gấp 16 lần nước Nga. Vào ngày giờ chuyển động đó ở vùng Nhà Bàng sẽ nổi lên một đền khách đề thế giới đến thăm ở, và một cung điện để Thánh Hoàng và Tướng, Quan triều đình hội họp và phân xử việc của mười tám nước sinh sống trên thế giới này. Lúc đó nhiều tướng Đại Nam Quốc đi công du 17 nước để truyền đạo lý tu hiền và cách ăn ở sanh sống. Mười bảy nước sau này chỉ dùng chung chữ nôm của Đại Nam Quốc mà thôi.

Địa Hình Đất Nước Và Sự Sinh Sống:

- Đất miền Bắc mười phần sụp còn một phần.

- Đất miền Trung mười phần sụp còn một phần, phần còn lại là bãi bồi có địa huyệt sau này là đường đi của Tiên Phật.

- Cù lao ông Chưởng sụp từ lộ đến phủ, thời ngưng lại bên đó có Thánh là Ông Ba Thới đứng ra lập lễ chiêu an xong rồi mới sụp luôn, phần đất lại từ đó tới sau sụp bất ngờ không ai hay biết đó là cù lao sụp trước ban đầu.

- Ở Hoà Hảo sau này sụp từ từ, người ta đều hay biết mà lánh nạn nên ít ai bị chết.

- Từ Tây Ninh đến Sài Gòn, Tiền Giang đất sụp bất ngờ không biết trước nên bị chết rất nhiều, bởi vì chiến tranh bom đạn làm động đất trên 500 năm, dưới lòng đất đá đều tách dang ra hết. Rồng Vàng chuyển động thì đất đai sẽ bị sụp xuống mấy trăm thước ngập thành biển.

- Miền Hậu Giang đất bùn pha đất sét nên lòng đất sét cứng và chưn rất sâu nên khi Rồng Vàng chuyển động có phần ít sụp hơn.

- Miền Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Vị Thanh không sụp đất, nhưng chịu sự chết chóc của phong thuỷ, phong hoả liên tục trên mặt đất rất ác liệt, khí trời và nước khi nóng 1,000 độ, khi lạnh 0 độ vô hồi, buốt giá tim gan con người. Khi Rồng chuyển động, khí âm dương phát động làm ra trận cuồng phong thổi rất mạnh, cuốn cây cùng đá bay, sát phạt con người và sanh bịnh mà chết.

- Bắc, Trung, Nam cũng đồng chung cảnh phong thuỷ của quyền Tạo Hoá làm ra thiên tai.

Đức Bổn Sư nói: "Khi giặc Miên khởi và giặc Năm Châu sang đánh cướp nước Nam kéo dài là ba năm sáu tháng, Tạo Hoá mới từ từ sắp định là có bảy ngày đêm tối trời tối đất để Tạo Hoá đổi lại quả địa cầu mới, thái bình hiền đức bảy trăm ngàn năm mới có lại quả địa cầu khác.

Ở quả địa cầu mới này Tạo Hoá ban cho ngày trời, đêm trăng, mặt trời mọc hướng Đông, còn mặt trăng mọc đổi lại nên ông đi qua bà đi lại, ngày trời đêm trăng trong suốt bảy trăm ngàn năm.

Còn tính về Lịch thì một tháng có 30 ngày, và đúng 12 tháng là Tết Nguyên Đán, không dư hoặc thiếu hay nhuận như đời nay.

- Có hai giống lúa trời Hồng Kim và Bạch Kim:

- Giống lúa Hồng Kim bề tròn 3 tấc, dài 1 thước rưởi đến ngày dân Đại Nam Quốc đem ra đồng ruộng gieo trồng theo khoảng cách của từng hột, lúa chín rụng hột rồi tự lúa lăn về nhà chủ đất, vì chịu ảnh hưởng của thời tiết âm dương và đất nên hột lúa lớn như vậy.

- Giống lúa Bạch Kim lớn bằng ngón tay cái và dài một tấc vì mười bảy nước thiếu phước đức nên Trời đày phải chịu ra đồng cày bừa cực nhọc gieo mạ cấy mới có lúa ăn nên hột lúa Bạch Kim nhỏ hơn hột lúa Hồng Kim của Đại Nam Quốc.

- Cây vải giống như cây chuối, bề tròn 1 thước, bề cao 10 thước có hơn, cây mọc thành rừng, vải rất nhiều màu, ta phân biệt màu nào thì vải sẽ có màu đó.

Cây vải đến già là một năm mỗi cây cho ta một cuộn vải dài 100 thước. 

Cây chỉ cũng giống như cây vải, bề tròn nửa thước, bề cao năm thước, cây mọc thành rừng, một năm cây mới già xài được. Mỗi cây cho ta một cuộn chỉ, chỉ cũng có nhiều màu như vải.

- Các loài cây độc sẽ bị tiêu diệt, chỉ còn sống các loại cây hiền ăn trái ngọt thơm, còn cây nhân sâm mọc hoang như đồng cỏ dư thừa, bộ rễ con người ăn được đại bổ, con người dùng cây nấu chế thành rượu Tiên nhân sâm và cây thuốc lá hút vào rất thơm và hậu ngọt, trấu ăn vào dịu miệng không làm đen răng phụ nữ. Các loại khoai, rau củ khác cũng to bự.

Như vậy Đời Thánh Đức con người dư ăn, dư mặc, may vá thêu thùa, trong đó thức ăn cũng có món chay, món mặn.

Tuổi trưởng thành bên nam là 80 - 100 tuổi, người cao 2 thước, nước da trắng hồng với mái lóc đen dài.

Tuổi trưởng thành bên nữ là 80 - 100 tuổi, người cao 2 thước rưỡi, nước da trắng hồng và mái tóc đen dài rất đẹp.

Người đàn bà mang thai đến 20 năm mới sanh, khi sanh đẻ trong sạch như gà vậy, sanh được ba ngày là nó tự biết đi, đứng, mọc răng, ăn uống và nói tiếng mẹ đẻ.

Con người sống ở đời Thánh Đức sẽ sống mười ngàn tuổi thọ có hơn và hiểu thấu tam thập lục thiên của Tạo Hoá, con sinh ra mang họ mẹ, nếu sắp lại còn ít họ và cũng có họ nội, họ ngoại rõ ràng theo Vua định.

Con người có sanh chứ không có tử đến thời kỳ Phật, Thánh, Tiên chỉ định thời lo hành đạo tu hiền cho đến ngày đắc đạo sẽ tuỳ theo căn duyên mà hướng đạo bồ đề trường thọ.

Vì  trên toàn thế giới chỉ có một đạo Phật mà thôi, còn Đại Nam Quốc thì con người thông minh sáng suốt, nghe và thấy thông suốt 36 tiếng Trời và miền Thủy Địa.

Các nước trên thế giới vì đã quy y với Đức Phật Di Lặc nên mỗi năm lễ được bao nhiêu kinh cứu tử hoàn sanh và kinh tham thiền đắc đạo, ghi vào sổ sách dâng cho Vua Đai Nam Quốc, rồi Vua mới dâng lên Đức Phật Di Lặc.

Thánh Đức Hoàng Đế nước Đại Nam Quốc căn cứ theo sự tu hành lễ kinh nhiều hay ít mà ban thưởng bạc vàng châu báu cho các nước tiêu xài, chớ các nước không được in ra tiền bạc mà phải dùng tiền vàng của Phật ở tại nước Đại Nam Quốc có sẵn, chớ không phải mười bảy nước kia đem món vật chi mà cống hiến cho Đại Nam Quốc.

Trong bảy trăm ngàn năm của đời mới này dân số nước Đại Nam Quốc có trên một triệu dân là dân đông nhất, còn lại mười bảy nước đàn em, mỗi nước chỉ còn năm chục nghìn dân mà thôi. Con người không loạn luân và biết tôn kính thầy tu và tôn thờ ân thiêng liêng Tạo Hoá, ân đất nước, ân Tổ Tiên và ân nhân loại vạn vật.

Đức Phật Di Lặc dạy đạo cứ theo lệ mỗi tháng vào ngày 15 họp hội lễ Phật tại chùa Công của nước, và vào ngày 30 của mỗi tháng họp Quan dân tại đình Công của mỗi nước, mỗi năm đúng 12 tháng là ăn Tết chung.

Ở đời mới các loài thú sống trên Trời dưới đất và dưới nước miệng không còn nọc độc nữa và rất hiền không ăn thịt người, các loài thú. biết kính trọng con người. Con chó, con mèo ngày sau hết nhiệm là giữ nhà giúp chủ, sẽ về ở cung Trời hưởng phúc lộc của Tạo Hoá vì đã có công giúp ích cho đời.

Đức Bổn Sư nói:

Việt Nam sau là sông lớn.
Nước chảy hai chiều,
Nước trong uống ngọt dân đi một đường.
Làm dân Phật quốc đại cường.
Đàn anh thế giới sống đời trường sanh.

Sống ở cõi đời Thánh Đức này gia đình không có thờ Cửu Huyền Thất Tổ, ông Bà Tổ Tiên, vì Đức phật Di lặc đã cho phép con người hoá Tiên tại thế, thời tiết mát lành ấm áp, ngày Trời đêm Trăng, người dân kiếp Tiên sống cảnh Thiên đàng tại thế gian nầy thường diện kiến Phật, Thánh, Tiên, Thần ở từ cõi Phật, cõi Tiên, cõi Trời cách xa mà vẫn bay xuống để dự lễ hội.

Đức Bổn Sư nói:

"Đúng phân kỳ loạn lạc có mây ngũ sắc bao trùm. Ngày ấy là ngày lập hội của Phật, qua ngày ấy sẽ chết về âm binh, dịch, đại ôn, hoàng sa, ngũ hành sa, Thiên Tiên sa, Bát quái sa, Đại Tiên sa.

Phần Năm Châu sang qua cướp nước Việt Nam ta từ phương xa đến phản, Tạo Hoá cho sấm sét Trời Đất tứ phương bảy ngày bảy đêm tối tăm, ta nghe rên rỉ, yêu ma tinh quỉ đông đầy réo kêu người ta theo, lúc đó khó biệt phái nào chánh, phái nào tà, phái nào Tiên Thiên, phái nào Địa Tiên.

Bảy ngày đêm tối tăm này ở vùng Thất sơn lẫn lộn yêu ma tinh quái. Lúc đó con người cần phải vái Phật, Thánh, Tiên, Thần cứu độ và đưa đón cho đến nơi đến chốn. Đến ngày giờ nầy con người thiếu phước đức và thiếu bổn phận trách nhiệm đạo tâm người, đều phải bị tiêu diệt linh hồn và thể xác.

Tạo Hoá không cho linh hồn đi đầu thai trở lại đời Thánh Đức Thượng Nguơn để thụ hưởng làm dân Phật Quốc.

Về nước Pháp, sau này phải sang trả nợ cho Đại Nam Quốc là 98 năm giúp việc cho nước ta để trừ các mặt tội lỗi mà Pháp đã giết hại dân tộc ta.

Khi trả nợ mặc dù không thể đền bù đủ với tội ác trước, nhưng Phật Di Lặc tha tội cho họ và cho vào làm tôi thờ Phật, rồi về Đồng Tháp Mười giăng câu hát lờ trong 30 năm Phật mới giảm tội cho, rồi từ đó về sau số người Pháp này ở luôn bên nước ta vĩnh viễn.

Lý do bên nước Pháp bị Tạo Hoá tiêu diệt không còn nữa.

Đó là thời kỳ loạn lạc ba năm sáu tháng đã đủ.

Thời Phật DI LẶC Thiên Tôn BỒ TÁT mới vâng lịnh Tạo Hoá thay đổi quả địa cầu 68 nội trong 7 ngày đêm mới xong.

Ngày xưa lời sấm của vị tu sĩ đắc đạo Bồ Tát là Ông Trạng Trình Nguyên Bỉnh Khiêm tại chùa Bạch Vân Am thuộc tỉnh Hải Dương miền Bắc nước Việt rằng:

Chiến tranh khoa-học trên thế giới
Đổ Thái Bình Dương mới hết đời
Xin tất cả những gì trong cuộc song
Lẽ sống là màu trắng của tang thương
Nhẫn, nhường thương thuận kính hoà
Người hiền đạo đức phước này Trời ban
Về đời Tiên Thánh cao sang
Thiên Đàng tại thế sống bằng trường sanh
Lạc Âu qui thống
Sơn Thất Nam Vương

Trạng Trình tiên tri quả địa cầu cũ kỹ sẽ này sẽ thay quả địa cầu 68 do quyền của Tạo Hoá tấn phong thay đổi âm dương thay đổi tân thế giới:
  
Ngày sau sen nở trên đài,
Chợ hình chữ đại đón người vào thi.      
Trong năm Quí Dậu mới thi,
Giáp Tuất, Ất Hợi, Bồ Đề trổ bông
Lời Sấm Tiên Tri của Trạng Trình:

1- Tinh, Khí, Thần tạo linh hồn, thể xác con người, sau sự sống sẽ đi vào cõi chết, nếu bộ óc thông minh ta biết xét: sanh, lão, bệnh, tử như Phật Thích Ca mà tránh được sự vong tử và được ân Tạo-Hoá cứu độ cho tu học đạo, đời sống trường sanh.

2- Đừng nghĩ tu hành Tạo Hoá, ban thưởng phước đức lâu dài. Người đời trả nợ theo quả nghiệp, tu là phải sửa, đạo là con đường, tu đạo là sửa. Con đường ta đi đúng theo công lý đạo đức được người ghi chứng.

3- Đừng nghĩ tu hành là khỏi tai nạn, hay là được phước sống lâu dài. Người ở đời phải trả nợ theo quả nghiệp. Nếu thiếu nợ nhiều thì phải trả lâu ngàn năm trong vũ trụ này.

Chữ tài Chữ Sắc tiền vàng ghét nhau,
Phải tìm chân lý về sau
Hoá Công ban phước cho người đức cao.

Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn

Ngã chia làm 2: bản ngã (vọng tâm) và chơn ngã (chơn tâm). Quán chiếu nội tâm, tìm Bản Tâm, Vọng Tâm mà biến, hiện Chân Tâm. Chân Tâm rạng r...