Tuesday, September 28, 2021

Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn

Ngã chia làm 2: bản ngã (vọng tâm) và chơn ngã (chơn tâm).

Quán chiếu nội tâm, tìm Bản Tâm,

Vọng Tâm mà biến, hiện Chân Tâm.

Chân Tâm rạng rỡ, thông Tam Giới,

Thiên ma ngoại đạo chẳng dám xâm

Muốn trường sinh, phải tìm cho được Chân Tâm.

Muốn tu Trường sinh, phải biết gốc của sở sinh. Muốn cầu bất tử, phải biết thế nào là con người bất tử. 

Cho nên nói: Có biết được Bất tử nhân, mới có thể trở nên Bất tử.

Con người bất tử ấy, Đạo gia kêu là «Thiết Hán», Phật Gia gọi là «Kim Cương». Tức là Chân Tâm, bản lai diệu giác của con người. Tâm này vốn Linh minh bất muội, Thường tri, thường minh, về Thể, vốn dĩ không sinh, không diệt, về Tướng, vốn vô khứ, vô lai. Không biết có tự bao giờ, trước đất trời nó đã có. Không biết nó kết cuộc ra sao, sau đất trời nó vẫn còn. Cao thì vô thượng, rộng thì vô cùng, thẳm sâu vô đáy. Trời đất chở che là nhờ nó, nhật nguyệt sáng soi là do nó, hư không nhờ nò mà rộng rãi, bao la, vạn loài nhờ nó mà biến hoá. 

Tam giáo Thánh Nhân tu Đạo là tu cái đó, thành Tiên, thành Phật là do đó, mang lông, đội sừng cũng do đó.

Thánh phàm hai nẻo, do nó (Tâm đó) phân ra. Xuất sinh tử cũng do nó, lên Niết Bàn cũng chỉ có Phép này (phép tu tâm này). Vạn vật trong thế gian đều bị vô thường thôn tính. Duy có cái đó không sinh, không diệt,  duy cái tâm đó không có gì trói buộc nổi, nó vô hình tướng, nên không gì thấy được. Nó đoan đoan, chính chính, đình đình, đáng đáng, rất đâu ra đấy, nhưng con người không hiểu được Bản Lai của nó.

Chân tâm và Vọng Tâm:

Tại sao không giác ngộ? Tại vì có vọng tâm. Vọng tâm là gì?  

Chúng sinh từ vô thuỷ dĩ lai, không biết Chân Tâm, chẳng tự hiểu biết, nên bị luân chuyển, uổng nhập các nẻo luân hồi

Đầu hết Chân Tâm thời vô vọng, tính trí bản minh. Nguyên tinh thời thanh tịnh thâm diệu, nhưng vì vọng tâm đột khởi, nên Chân Tâm bị mờ tối, Nguyên tinh cũng mất bản chất, bị trần ai làm dơ nhớp, và cái Biết phát sinh. Cho nên chuyển Tri Giác thành Thức. Vọng tâm trong ta chính là Thức vậy. 

Tâm vốn vô tri, nhờ Thức mới biết, Tính vốn vô sinh, nhờ Thức mới sinh. Chủng tử sinh thân này, do đó phát sinh. Nhân đó sinh ra các loại hoa ô nhiễm, và tất nhiên sẽ sinh ra các quả luân hồi sinh tử.

Thức Thần là Vọng Tâm, là Căn Nguyên sinh tử

Ngày nay, người ta nhận lầm rằng trong tâm ta có một vật chiêu chiêu Linh Linh, hồn nhiên cùng vật đồng thể, nên gọi nó là Nguyên Thần. Có biết đâu đó chỉ là Thức Thần sinh sinh tử tử, chỉ là chủng tử kiếp kiếp luân hồi.

Cho nên Cảnh Sầm nói:

Học Đạo chi nhân bất ngộ chân,

 學 道 之 人 不 悟 真,

Chỉ vị tùng tiền nhận Thức Thần.

 只 為 從 前 認 識 神 .

Vô lượng kiếp lai sinh tử bản,

 無 量 劫  來 生死本,

Si nhân hoán tác bản lai nhân.

 痴 人 喚 作 本 來 人 .

Người nay, học Đạo chẳng biết Chân,

Chỉ vị xưa nay nhận Thức Thần.

Thức thần vốn dĩ sinh tử bản,

Người khờ tưởng ấy Bản Lai Nhân.

Than ôi! người đời nhận tớ làm chủ, nhận giặc làm con (nhận ngọn làm gốc) mà chẳng hay. Cho nên đức Thế Tôn mới dạy: Tiên đoạn vô thuỷ luân hồi căn bản 先 斷 無 始 輪 回 根 本 (Trước hết phải chặt đứt căn bản Luân Hồi). Căn này đã chặt, thì các Thức lấy đâu mà nương. Và ta sẽ phục hồi được Bản Thể nguyên sơ thường minh của chúng ta.

Nhưng Đại Đạo mênh mang, mù mịt, biết làm sao mà đi vào? Muốn cho áo xống tề chỉnh, phải xốc lại cổ áo, muốn cho lưới cá tề chỉnh, phải xem lại giường mối lưới.

Xưa Doãn Chân Nhân dạy ta con đường tu đạo chân chính, đó là phải bắt đầu cho hay, cho đẹp. Nếu đầu mà tinh khiết, thì Thiên Lý sẽ hiện tiền, Thức niệm không thể ô nhiễm được. Ví như, khi mặt trời sáng láng từng không, thì quỉ ma đều tuyệt tích.   

Phật giáo nói:

Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu,

 佛 在 靈 山 莫 遠 求,

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.

 靈 山 只 在 汝 心 頭 .

Nhân nhân hữu cá Linh Sơn tháp,

 人 人 有 個 靈 山 塔,

Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu.

 好 向 靈 山 塔 下 修 .

Phật tại Linh Sơn, khỏi tìm đâu,

Linh Sơn ở tại nhữ Tâm Đầu,

Ai ai cũng có Linh Sơn tháp,

Hãy hướng Linh Sơn tháp mà tu.

Đó là luận cho biết Linh Sơn Tháp ở đâu.

Giao  triệt dung dung, nên gọi là Pháp Giới (tức vũ trụ hiện tượng giới).

Tịch tĩnh, thường lạc nên gọi Niết Bàn.

Không ô trọc, không tẩu lậu nên gọi Thanh Tịnh.

Chân thật bất biến nên gọi là Chân Như.

Không lỗi lầm, không sai quấy nên gọi Phật Tính Giúp lành, lánh dữ nên gọi Tổng Trì.

Ẩn phú, hàm nhiếp (thu tàng mọi sự) nên gọi Như Lai Tạng.

Siêu việt, huyền bí nên gọi Mật Nghiêm Quốc (Tịnh Thổ của Đức Đại Nhật Như Lai), Gồm thâu mọi đức, chỉ điểm quần mê, một mình chiếu sáng, nên gọi Viên giác. Kỳ thật, chỉ là một khiếu. Đi ngược nó sẽ là phàm phu, thuận theo nó làTiên Thánh. Không biết nó sẽ bị Sinh Tử, Luân Hồi; hiểu biết nó, Luân Hồi sẽ dứt.

Tóm lại trên trời dưới đất, cái khiến cho chúng sanh xoay mãi trong vòng sanh tử hoặc thoát khỏi luân hồi là do duy nhất chỉ có cái tâm (ngã) này mà thôi.

...

[ Vọng ngã cũng thường thay đổi vì duyên theo sáu trần. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đòi hỏi chúng ta phải cung phụng đầy đủ, sắc là thức ăn của mắt, âm thanh là thức ăn của tai, mùi là thức ăn của mũi, vị là thức ăn của lưỡi…Chạy đi tìm bóng sắc để thỏa mãn đôi mắt, tìm âm thanh trầm bổng để thỏa mãn đôi tai, mùi thơm tho để thỏa mãn mũi, vị cay đắng hay ngọt ngào để thỏa mãn lưỡi… Ý phân biệt thứ nầy đẹp thứ kia xấu, món nầy ngon, món kia dở. Phân biệt rồi đi đến chọn lựa, ham muốn, chiếm hữu, không được như ý thì sanh ra phiền não, khiến con người  lanh quanh trong vòng sanh tử luân hồi.

Chơn ngã còn  gọi là chơn tâm và còn nhiều tên khác, tùy theo kinh:

Phật dạy trong Bồ Tát Giới gọi là Tâm Địa, vì hay phát sanh muôn việc thiện.

Kinh Bát Nhã gọi là Bồ Đề, vì lấy giác làm thể. 

Kinh Hoa Nghiêm gọi là Pháp Giới, vì giao triệt và dung nhiếp. 

Kinh Kim Cang gọi là Như Lai, vì không từ đâu đến. 

Kinh Bát Nhã gọi là Niết Bàn, vì là chỗ qui hướng của chư Thánh. 

Kinh Kim Quang Minh gọi là Như Như, vì chơn thường bất biến. 

Kinh tịnh danh gọi là Pháp Thân, vì là chỗ nương của báo thân và hóa thân. 

Luận khởi tín gọi là Chơn Như, vì chẳng sanh chẳng diệt. 

Kinh Niết Bàn gọi là Phật Tánh, vì là bản thể của ba thân. 

Kinh Viên Giác gọi là Tổng Trì, vì mọi công đức từ đó mà lưu xuất. 

Kinh Thắng Mang gọi là Như Lai Tạng, vì ẩn phú va hàm nhiếp. 

Kinh Liễu Nghĩa gọi là Viên Giác, vì hay chiếu phá mờ tối ».

Ai cũng có chơn ngã, tức là có Phật tánh, nhưng từ trước đến nay, bị vô minh, phiền não che khuất, cho nên không thấy được. 

Chơn ngã có đủ bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh. Tinh tấn tu hành sẽ được sáng suốt, giác ngộ hoàn toàn, chơn ngã hay Phật tánh hiển lộ, tức là thành Phật.]

Monday, August 23, 2021

CHẤP CÓ CHẤP KHÔNG

CHẤP CÓ CHẤP KHÔNG là những biên kiến của hai cực đoan. Như Lai xa lìa hai cực đoan mà thuyết pháp ở Trung Đạo.

Phật nói chấp CÓ là bệnh nhẹ dễ trị, chấp KHÔNG là bệnh nặng khó trị.

CÓ là duyên sinh, KHÔNG là duyên diệt. Chỉ tạm thời mà thôi. Tùy duyên của bực thánh là không chấp trước. Không chấp không phải là không có tâm, tức là không khởi niệm cho đó là thật, không khởi niệm cho đó là giả, không bị một cái nào dính mắc.

Cả ngày nói “không không” nhưng khi bị đánh thì vẫn thấy rất đau. Vì vậy không chấp CÓ mà cũng không chấp KHÔNG CÓ, gọi là trung đạo.

"Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là ta sống trong trần mà không bị trần lôi kéo, vẫn thấy sắc, nghe tiếng, ngửi mùi, nếm vị, thân xúc chạm nhưng tâm vẫn không đắm nhiễm, vẫn an nhiên tự tại.

Friday, June 28, 2019

Lạc bước cõi hồng trần

Lạc bước cõi hồng trần: Giữa luân hồi đau khổ, khi nào mới về nhà?

Lạc bước cõi hồng trần
Không biết ai người thân
Kiếp này qua kiếp khác
Yêu, ghét, hận, si, sân?

Thế gian ta không hiểu
Ta là ai? Vì sao?
Tư tâm sinh phiền não
Thất tình khiến hư hao.

Người trong cõi vô minh
Quên thệ ước bên mình
Mê mờ nơi thế tục
Nhan sắc cùng hư vinh?

Ngôi nhà thật của mình
Là mỹ diệu vô cùng
Người thân chờ mòn mỏi
Trong lệ dài lặng thinh…

Rồi một ngày chợt thấy
Cuộc đời trôi qua rồi
Chén rượu nồng năm ấy
Như hư vô mà thôi!

Trăm năm thoáng chốc qua
Lại thành kiếp cỏ hoa
Giữa luân hồi đau khổ
Khi nào mới về nhà?

Hy Vọng
https://www.dkn.tv/nghe-thuat/lac-buoc-coi-hong-tran.html

Tuesday, September 11, 2018

HỮU PHƯỚC BẤT KHẢ HƯỞNG TẬN

Hữu phước bất khả hưởng tận,
Phước tận thân bần cùng.
Phước không thể hưởng hết,
Lời không thể nói cạn;
Thọ khổ là hết khổ,
Hưởng phước là tiêu phước.

Trên đời, hễ các bực quân-tử càng dư tiền nhiều của thì làm đặng nhiều việc có phúc đức, làm được nhiều việc lành. Còn kẻ tiểu nhân càng dư nhiều của cải thì càng gây nhiều điều tội lỗi. Có lộc Trời cho đừng hưởng hết, phải làm phước đặng để sau cho con cháu.

THIỆN ÁC BÁO ỨNG LUẬN

 I
Bàn-môn, ba ngàn sáu trăm ngoại đạo, thì đạo nào cũng có sở-trường sự hay, làm cho người đều tin mà lầm.

Nhưng ai đầy đủ phước đức, tiền kiếp có căn lành, thì gặp chơn-sư chỉ truyền bí-pháp máy dinh-hư tiêu-trưởng, huyền diệu trong mình mà tu-hành thì siêu phàm nhập Thánh chẳng sai.

Nên Phàm, Thánh tại người chưởng giống, hễ gầy giống chi thì ra giống nấy; song người ở trần gian nầy, phải lo cho thân sau chút ít; chờ đừng để xài phí hưởng hết phước lộc của mình, đến sau đâu mà hưởng nữa.

Sách có câu: "Hữu phước bất khả hưởng tận, phước tận thân bần cùng".

Như ngày nay mà đặng giàu sang là bởi kiếp trước chưởng phước, tu-hành, nên nay sanh mà hưởng phước ấy.

Như nay không làm lành, tích phước, kiếp sau phước nào đến cho mình hưởng nữa. Lúc nầy không lo trồng cây gây giống sau lấy chi mà hưởng.

Nên trong Kinh Nhơn-Quả rằng: muốn biết kiếp trước của người, thì xem đời nay người ta hưởng đó, muốn biết kiếp sau người thì xem tâm tánh người đang gây tạo đây.

Tác thiện, thiên giáng chi bá tường; tác bất thiện, thiên giáng chi bá ương. Nghĩa là: làm lành Trời xuống cho điều lành, làm điều chẳng lành trả xuống cho trăm điều tai hại.

Ðức Ðạo-Tổ rằng: Họa phước không nhứt định, tại lòng người dời đổi nó.

 II

Sự giàu sang tiền của đây là Ơn Trên ban thưởng cho người có công chứa phước điền khi trước, tùy theo mình làm ra nhiều hay ít mà thưởng.

Kẻ chứa sự không lành thì cũng phạt tại thế gian, một mảy không sót đặng.

Vậy nên mới có kẻ giàu người nghèo, kẻ tàn tật, người đui mù, kẻ thông-minh, người ám-muội.
Nếu lành dữ không thưởng phạt, thì Trời Ðất ắt có chỗ tư riêng sao?

Dương pháp nầy, dẫu trốn khỏi phép nước gia hình, về âm pháp khó trốn quỉ thần ký phạt.

Nên sách rằng: Dương hiến cận nhi hữu đào, âm pháp trì nhi bất lậu. Chớ đừng tưởng chết rồi thì mất đi, không kể về phần linh hồn sau nữa. Nếu chết mà mất hết thì ai ai cũng làm điều hung dữ, các điều tội lỗi sái phép công-bình cho dễ hơn, chớ cần gì làm sự hiền lành, nhơn đức chi cho bó buộc tâm tánh hình xác của người. Còn Thánh, Hiền, Tiên, Phật tu-hành làm chi cho cực nhọc thân thể, hễ chết rồi mất đâu còn nữa lo sợ.

Chẳng rõ Thiên-Ðàng, Ðịa-Ngục thưởng phạt thể nào, xin xem trên thế-gian thì biết; kẻ sướng người cực, kẻ đói, người no, kẻ liền-lạc, người tàn-tật, người sao quân-tử kẻ lại tiểu-nhơn, trí ngu chẳng đồng, thì biết có sự thưởng phạt công-bình thiêng-liêng của Tạo-Hóa. Thiên-Ðịa tuần-huờn báo ứng tự nhiên cho người đó.


Đông  Nhạc Thánh Đế thuỳ huấn

Nguyên văn:

東 嶽圣帝垂訓:“天地無私,神明暗察。不為享祭而降福,不為失禮而降禍。凡人有勢不可倚儘,有福不可享儘,貧困不可欺儘。此三者乃天地循環,周而复始。故一 日行善,福雖未絰,禍自遠矣。一日行惡,禍雖未絰,福自遠矣。行善之人,如春園之草,不見其長日有所增。行惡之人,如磨刀之石,不見其損日有所虧。損人益己,切宜戒之!一毫之善,与人方便。一毫之惡,勸人莫作。衣食隨緣,自然快樂。算甚么命問甚么卜欺人是禍,饒人是福。天網恢恢,報應甚速。僅听吾言,神欽鬼伏。”                                                       

*Âm:

Đông  Nhạc Thánh Đế thuỳ huấn :“Thiên địa vô tư , thần minh ám sát . Bất vị hưởng tế nhi giáng phước , bất vị thất lễ nhi giáng  hoạ . Phàm nhân hữu thế bất khả ỷ tận  , hữu phước bất khả  hưởng tận , bần khốn bất khả  khi tận  . Thử tam giả nãi thiên địa tuần hoàn , chu nhi phúc thuỷ . Cố nhất  nhật hành thiện , phước tuy vị chí , hoạ tự viễn hĩ . Nhất nhật hành ác  , hoạ tuy vị chí , phước tự viễn hĩ  . Hành thiện chi nhân , như xuân viên chi thảo , bất kiến kỳ trưởng nhật hữu sở tăng . Hành ác  chi nhân , như ma đao chi thạch , bất kiến kỳ tổn nhật hữu sở khuy . Tổn nhân ích kỷ , thiết nghi giới chi !Nhất hào chi thiện , dữ nhân phương tiện . Nhất hào chi ác  , khuyến nhân mạc tác . Y  thực tuỳ duyên , tự nhiên khoái lạc . Toán thậm ma  mệnh,  vấn thậm ma  bốc,  khi nhân thị hoạ , nhiêu nhân thị phước . Thiên võng khôi khôi , báo ứng thậm tốc . Cận thính ngô ngôn , thần khâm quỷ phục .

*Dịch nghĩa:

Thánh đế của Ðông Nhạc (*) rũ ban lời dạy rằng:  Trời đất không vì tình riêng, thần minh luôn xét, không vì tế lễ thịnh soạn mà gieo phước, không vì thất lễ mà gieo họa.

Người ta ở đời có thế không nên ỷ hết, có phước không nên hưởng hết, thấy kẻ bần cùng không nên khinh khi hết.  Ba thứ ấy tuần hoàn trong trời đất giáp vòng rồi trở lại lúc đầu.  Thế cho nên một ngày làm điều thiện, phước tuy chưa đến mà họa tự lánh xa, một ngày làm điều ác, họa tuy chưa đến mà phước tự lánh xa.

Người làm điều thiện như cỏ vườn xuân, không thấy sự lớn của nó nhưng mỗi ngày có lớn thêm.  Người làm điều ác như viên đá mài dao, không thấy sự hao mòn của nó nhưng mỗi ngày có khuyết bớt.

Làm tổn hại người để thêm ích lợi cho mình nhất định phải nên e dè.  Một mảy thiện cũng phải dành thuận lợi cho người, một mảy ác cũng phải khuyên người đừng làm.  Ăn mặc tùy cơ may thì tự nhiên được vui sướng, tính toán số mạng làm chi?  Coi bói làm chi?  Khinh khi người ta là chuốc họa, tha thứ người ta là tạo phước.  Lưới trời lồng lộng, báo ứng rất nhanh.  Cẩn thận nghe lời ta thì thần kính quỷ phục.

*Diễn ca:

Trời đất nào có vị tình?
Luôn luôn xét nét, thần linh nào lười?
Lễ to đừng tưởng thần cười,
Lễ nhỏ thần chẳng giận người bỏ bê.
Ở đời, đắc thế phải dè,
Gặp phước thì cũng chớ hề hưởng tham.
Chớ rẻ rúng kẻ nghèo nàn,
Bởi ba điều ấy thế gian xoay vần.
Tự nhiên ai cũng có lần,
Sau cuộc xoay vần, vòng lại đầu tiên.
Một ngày ý thiện dấy lên,
Phước tuy chưa đến, họa liền lánh xa.
Một ngày điều ác gây ra,
Họa tuy chưa đến, phước đà lui chân.
Làm thiện như cỏ vườn xuân,
Phước lớn dần dần, chẳng thể nhận ngay.
Làm ác như khối đá mài,
Phước hao mòn mãi lâu ngày khuyết to.
Phải nên cân nhắc, đắn đo,
Chớ hại người để lợi cho phần mình.
Hãy nên suy xét cho tinh,
Nhận ai chút thiện, tận tình đền ơn.
Thấy ai hành động mất khôn,
Nhúng tay gây ác, ta dồn sức ngăn.
Ở đời, cái mặc cái ăn,
Ðược chăng hay chớ, lăng xăng nhọc người.
Xem số, coi bói khắp nơi,
Ham chuyện đổi đời, nghĩ thật tham lam.
Khinh khi người, họa đến thân,
Tha thứ người, mới hưởng phần phước may.
Lưới trời lồng lộng bủa vây,
Mọi đều báo ứng thấy ngay tức thì.
Khuyên ai cẩn thận nhớ ghi,
Quỷ thần cũng phục, nói chi loài người!

*Chú thích:

*Thánh đế núi Ðông Nhạc:  Vị thần chí tôn cai quản núi Thái Sơn.

Wednesday, September 5, 2018

TÀI ĐỨC VÀ NHÂN DUYÊN HÓA ĐỘ

Lấy Đức độ người

Đức độ là đạo đức và lòng độ lượng. Tấm lòng khoan dung độ lượng, Chỉ có từ bi khoan dung mới có thể cảm hóa được nhân tâm con người.

Bi đức là tình thương bao la, là lòng trắc ẩn. Trí đức là trí tuệ cao cả không gì sánh bằng, ví dụ như trí tuệ của Phật tổ. Tịnh đức là trước mặt, sau lưng, tâm của Phật vẫn như như vậy, không thay đổi.

Người xưa có câu: “Đức phối thiên địa, thiên tất hữu chi”, có nghĩa là đạo đức của người ta mà hài hòa với trời đất thì trời đất ắt sẽ phù trợ. Phong thủy lớn nhất của đời người chính là đức.

Chữ “德” (đức) được tạo thành từ 5 bộ, bao gồm: “彳”, “十”, “罒”, “一” và “心”. Ý nghĩa như sau:

Bộ “彳” (xích) có nghĩa là bước đi chậm rãi, cũng có nghĩa là đức cần phải tích lũy lâu dài. Muốn tích đức thì cần luôn giữ thiện tâm, không phải là nhất thời hứng chí. Phúc đức là kết quả nỗ lực liên tục của cả một đời người.

Bộ “十” (thập) có nghĩa là nhiều, là đầy đủ, thập toàn thập mỹ, mười phân vẹn mười, ngụ ý là bất cứ lúc nào hay bất cứ nơi đâu cũng đều phải có thiện tâm, phải đức độ, khoan dung với mọi người.

Bộ “罒” (võng) thực chất là bộ mục (con mắt) nằm ngang, nhấn mạnh người có đức có thể nhìn thấy rõ những điều không chân chính, có thể nhận biết được đâu là đúng đâu là sai, đâu là tốt đâu là xấu.

Bộ “一” (nhất) là tổng thể, ý rằng người luôn có tầm nhìn bao quát, không ích kỷ, luôn chính trực, lý trí, trung thành, trong lòng không có tạp niệm, không lo lắng mới là người có đức.

Bộ “心” (tâm) là nói đến nội tâm, bồi dưỡng “đức” cần phải dựa vào tu ở tâm, chân tâm, thành tâm, chung tâm. “Tâm” nằm ở vị trí cuối cùng của chữ “đức” cho thấy đức là ở tận đáy lòng.

“Đức” có nghĩa là đạo đức, phẩm đức, phẩm hạnh. Những tính tốt như chân thành, kiên trì, nhẫn nại, vị tha, v.v. đều được gọi là “đức tính”. Người hay làm điều thiện, tấm lòng bao dung lại được gọi là người “đức độ”. 

MUỐN CỨU ĐỘ CHÚNG SANH, TRƯỚC PHẢI KHẮC PHỤC PHIỀN NÃO TẬP KHÍ CỦA MÌNH

Độ chính mình chính là độ chúng sanh.

Trong thời đại này, có mấy người chân thật phát tâm để làm người cứu thế? Không nên cho rằng chính chúng ta không có năng lực, không có trí tuệ. Xem thấy sự việc này, thực tế thương cảm mà nói là tâm có thừa nhưng sức không đủ. Nếu như chân thật phát tâm thì chắc chắn nhận được chư Phật Bồ Tát gia trì, long thiên thiện thần sẽ đến giúp bạn, vấn đề chính là bạn có chịu phát tâm hay không?

Phát tâm không phải là câu nói ở trên miệng, vì như vậy thì không ích gì, đó là giả, không phải là thật. Phát tâm phải thể hiện bằng hành động. Trong hành động then chốt nhất chính là chính mình biết được lỗi lầm của chính mình, chính mình có thể đem lỗi lầm của chính mình sửa đổi lại, đó là hành động, như vậy thì bạn mới chân thật phát tâm.

Muốn phát tâm cứu độ tất cả chúng sanh khổ nạn, trước tiên phải cứu chính mình. Việc này ở trên kinh luận, Phật đã nói rất nhiều là “chính mình không độ mà muốn độ người thì không có việc đó”, đó là giả, không phải là thật. Cho nên nếu muốn cứu độ tất cả chúng sanh thì trước tiên phải cứu độ chính mình. Chính mình không đọa lạc, chính mình không được trầm luân, phải đem tập khí thói xấu của chính mình sửa đổi, đó là bạn chân thật phát tâm, đó là việc không gì quý hơn.

Kinh Vô Lượng Thọ từ phẩm 32 đến phẩm thứ 37 luôn luôn khuyên bảo chúng ta đoan chánh tâm ý, đoan chánh tai mắt mũi lưỡi, đoan chánh sáu căn, là cái ý như vậy.

Xưa, Ngài Mạnh Tử có dạy: “Ai tai! Nhơn hữu kê khuyển xả nhi tắc tri cẩu chi, hữu phóng tâm nhi, bất tri cầu”.

(Rất thương thay cho người đời. Mất những vật nhỏ mọn như: đồng xu, cắc bạc, gà, chó…Chẳng xứng đáng chi mà họ còn biết tìm kiếm; huống chi cái tâm là vật quí giá vô cùng: làm hiền nhân quân tử cũng nhờ tâm. Thế mà người đời lại bỏ cái tâm của mình không biết tìm cầu).

Cho nên Ngài bảo:“Học vấn chi Đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hỷ”.

(Người học vấn đạo lý chỉ có cái mục đích là tầm lại cái lương tâm thất lạc của mình), hoặc (đạo học vẫn không có chi lạ, chỉ tìm kiếm cái phóng tâm của mình mà thôi!).

Tâm ý của chúng ta ngày nay, sáu căn không đoan chánh. Vì sao gọi là không đoan chánh? Phan duyên cảnh giới bên ngoài, không biết gom nhiếp lại, mắt duyên sắc, tai duyên tiếng, duyên cảnh giới, sáu căn khởi tham-sân-si-mạn. Duyên sáu cảnh là mê hoặc, khởi tham-sân-si-mạn là tạo nghiệp. Tạo nghiệp thì làm gì không chịu quả báo chứ? Khi quả báo hiện tiền thì hối hận không kịp. Cho nên hy vọng chúng ta có thể chân thật giác ngộ, chân thật quay đầu, buông bỏ tự tư tự lợi, buông bỏ danh vọng lợi dưỡng, buông bỏ năm dục sáu trần, buông bỏ tham-sân-si-mạn, nhưng không có người làm được. Nếu như bạn có thể làm được, thì bạn chính là người cứu đời của ngày nay, chư Phật Như Lai có lý nào không ủng hộ bạn chứ? Có lý nào mà không gia trì bạn chứ? Chúng ta chính mình không chịu làm, vậy thì không còn cách nào.

Việc làm này chính là khắc phục phiền não tập khí của chính mình. Việc trước tiên phải mở rộng tâm lượng, chúng ta không nên đi thấy cái lỗi của người khác, phải thấy cái lỗi của chính mình. Một người có thể thấy được lỗi lầm của chính mình, đó gọi là khai ngộ. Đem lỗi lầm của chính mình sửa đổi lại, đó chính là tu hành, là điểm căn bản nhất. Mâu thuẫn trong nội tâm của chúng ta, bất bình trong nội tâm, ô nhiễm của nội tâm, phải đem nó hóa giải. Không cần phải làm giống y như chư Phật Bồ Tát, chỉ cần đối với thế xuất thế gian tất cả người sự vật đều không có đối lập. Bao gồm tất cả xung đột, phiền não, đại căn đại bổn của sanh tử, con người này ta thích họ, con người kia thì ta ghét họ, đó là tâm luân hồi. Tâm luân hồi không luận là tạo ra cái gì đều gọi là nghiệp luân hồi, bạn không có cách gì thoát khỏi luân hồi.

Chúng ta đọc qua trong kinh Kim Cang, sơ quả tiểu thừa Tu Đà Hoàn, Bồ Tát Đại Thừa Sơ Tín Vị đã phá bốn tướng. Chúng ta vẫn còn chấp trước kiên cố như vậy, có ngã có nhân, bạn chấp chặt bốn tướng đến như vậy, thì bạn làm sao có thể vượt khỏi ba cõi.

Cho nên trong lòng của Phật Bồ Tát không có xung đột, bao gồm tất cả mâu thuẫn đều hóa giải, chính là biết được cả vũ trụ này là người một nhà. Các Ngài không có phân biệt, không có chấp trước. Gặp phải người phản nghịch, các Ngài sẽ tha thứ cho họ. Phản nghịch là gì? Họ không hiểu rõ chân tướng sự thật, trên kinh Phật giảng là kẻ đáng thương, bạn phải lân mẫn họ, bạn không thể bài trừ họ, bạn càng không thể oán hận họ, cho dù làm sai việc rồi, phạm phải ngũ nghịch đại ác, bạn vẫn là dùng từ bi tha thứ cho họ. Vì sao vậy? Cũng giống như các cơ quan trên thân thể của chúng ta vậy, vẫn là một bộ phận của cả thân thể chính mình, quan hệ rất là mật thiết.

Trong Phật pháp gọi là giác, đại triệt đại ngộ. Ngộ cái gì? Chính là ngộ việc này, tận hư không khắp pháp giới, tất cả chúng sanh là một thể. Việc này trên kinh thường nói, “mười phương ba đời chư Phật cùng đồng một pháp thân, một tâm một trí tuệ, lực vô úy cũng như vậy”. Đã nói đến hết lời rồi mà ta còn phân biệt mình phân biệt người, vẫn là cứ ngoan cố chấp trước, thì bạn nhất định phải nên biết, cái phân biệt chấp trước này chính là tâm luân hồi mà trên kinh đã nói, cội gốc của nghiệp luân hồi. Các thứ này mà không chịu buông bỏ, vĩnh viễn không thể thoát khỏi luân hồi.

Đúng như lời người xưa đã nói, nếu như không thể kiêm thiện thiên hạ, thì phải biết lo thiện riêng mình. Không có cái duyên phận này, không thể giúp được cái xã hội này, không thể giúp đỡ đại chúng, thì chính cá nhân ta phải có thành tựu. Ta không cùng đồng bị ô nhiễm với tất cả mọi người, ta phải gìn giữ nguyên tắc của ta. Nguyên tắc của ta là tùy theo giáo huấn của kinh giáo, ta phải hạ công phu ở chỗ này.

Phật chỉ là nói chính mình, không nói người khác. Chính ta phải làm được, người khác có làm được hay không, không hề có chút liên quan gì với ta, điểm này làm cho người bái phục. Quy cũ của người hiện tại định ra là để dạy cho người khác, còn chính mình không làm, đó là sai lầm rất lớn, đó gọi là gạt mình gạt người. Phật Bồ Tát chân thật là một mảng từ bi, dùng hành động của chính mình mà đi cảm hóa tất cả chúng sanh. Thánh nhân thời xưa cũng là như thế.

Trong lịch sử nổi tiếng nhất vua Thuấn, hoàn toàn dùng thành ý của chính mình, hành động của mình để cảm hóa người. Việc này chúng ta nên học tập, nhất định không trách cứ người khác, “tinh thành sở chí, kim thạch vi khai”. Các vị đã nghe qua “sanh công thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu”, đá cuội cũng có thể cảm động, huống chi là con người chứ? Những người, sự việc, sự vật chung quanh chúng ta vẫn chưa có thể cảm hóa được là do chính chúng ta làm chưa đủ tốt, không nên trách người khác, phải trách chính mình. Chính bạn làm cho thật tốt thì có lý nào mà không cảm động được chứ.

Có Ba điều mà Đức Phật không thể làm được (tam bất năng):

 1) Không thể đếm hết số lượng chúng sinh

 2) Không thể chuyển được định nghiệp của chúng sinh.

 3) Không thể độ người không có duyên. Vì thế, Không thể độ được hết thảy chúng sinh.

Có đủ trí tuệ và khả năng để tùy duyên hoá độ chúng sinh là rất khó. Bồ Tát Quán Thế Âm có 32 tướng ứng hóa thân để độ chúng sinh bằng tứ nhiếp pháp: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự làm phương tiện hướng chúng sinh quay về đường thiện bằng trái tim yêu thương và hiểu biết.

Tùy duyên mà vẫn giữ được mục đích và bản chất của nó ta thường gọi là tùy duyên mà không bị biến đổi. Có người nội lực còn yếu kém, nên tùy duyên quá đành phải chịu cho duyên trần kéo lôi làm đánh mất bản thân mình, mà dính mắc vào đời sống thế tục.

Ngay cả đến Đức Phật, khi thuyết pháp, Ngài cũng vận dụng phương tiện thiện xão để tuỳ duyên tuỳ căn cơ mọi người mà tìm cách độ họ. Các vị Thiền sư, đạo sư, cao tăng sau này cũng nhờ tùy duyên hóa độ mà làm rạng rỡ truyền thống tốt đẹp của Phật giáo. Do đó, tùy duyên hóa độ là cần thiết, là khó thực hiện, là nền tảng của sự hoằng pháp, giáo dục.

Khi Phật còn tại thế, ngoài điều Ngài nói không thể chuyển nghiệp của chúng sinh được, Ngài cũng nói là không thể độ thoát cho những chúng sinh mà Ngài không có duyên độ họ. Người không có duyên là người không tin Phật Pháp, không muốn được hóa độ.

Ví dụ về không có duyên với Phật nên Phật không độ được: Cả người trong nhà kể cả người ở của ông trưởng giả tên Tu Đạt đều kính trọng Tam Bảo nhưng có một bà lão tên Tỳ Đề La không kính trọng Tam Bảo, bà lão rất được trưởng giả tin cậy phó thác giữ gìn đồ đạc trong nhà. Nhưng Đức Phật biết nhân duyên của bà, bèn bảo Ngài La Hầu La đi khất thực hóa duyên bà, Không ngờ khi bà nhìn thấy Ngài Hầu La thì thì bà rất thương rồi lòng kính tin Tam bảo trỗi dậy, Đức Phật nói rằng bà lão không có duyên với Thế tôn nhưng có duyên với Ngài La Hầu La rằng nhiều kiếp trước bà lão là mẹ của Ngài La Hầu La.

Phật nói không thể độ thoát cho những chúng sinh mà Ngài không có duyên độ họ, nên chúng sinh phải có nhân duyên tin vào Phật pháp, thực hành giáo pháp và thực lòng muốn được hóa độ.

Trong kinh Phật thường nói khích lệ mọi người phước huệ song tu. Nếu như quí vị không có phước báo, cũng không thể hoằng pháp lợi sanh. Quí vị chỉ có trí tuệ không có phước báo. Ví dụ không có phước báo, quí vị giảng kinh giảng rất hay, quí vị là một thầy giáo tốt, nhưng trường học người ta không cần quí vị, không mời quí vị, quí vị cũng hết cách. Chúng ta mới hiểu được phước báo cũng rất quan trọng. Cách tu như thế nào? Đó là bố thí.

CÁC LOẠI BỐ THÍ KHÔNG CẦN TIỀN

 1. Nhan thí - Bố thí nụ cười

 2. Ngôn thí - Bố thí ái ngữ, nói lời tốt đẹp

 3. Tâm thí - Bố thí tâm hòa ái, lòng biết ơn

 4. Nhãn thí - Bố thí ánh mắt nhìn thẳng hiền từ

 5. Thân thí - Bố thí hành động nhân ái

 6. Tọa thí - Bố thí nhường chỗ cho người cần

 7. Phòng thí - Bố thí lòng bao dung

KHÔNG NÊN TUYÊN THUYẾT ĐẠO NHƯ RAO BÁN MỘT MÓN HÀNG

Đạo truyền phải đúng lúc, đúng thời và đúng người. Thiên Đạo là “phi thời bất giáng, phi nhân bất truyền”.

Chúng ta càng không nên dùng thuật ngữ khéo nói đạo để kiếm thêm nhiều người tin nhanh và chịu mua như rao bán một món hàng. Vì người mua có lòng tham muốn chiếm hữu cái món đồ được diễn tả bằng lời nói văn hoa bóng bẩy khiến người nghe mong sao được sở hữu nó ngay lập tức, mặc dù bản thân họ chưa am tường chắc chắn về nó. Họ nghĩ nó như một món đồ chưng ngoài chợ, nếu lỡ mang về nhà suy nghĩ không thích có thể đem trả lại.

Chính người "rao giảng" đạo như món đồ đã cho người nghe cơ hội để nghĩ rằng "hàng mua rồi có thể trả lại". Đó là sai lầm tai hại và sẽ có tội với Đạo, với Trời. Lỗi khi được truy xét qui về người "biết" chứ không đổ lỗi cho người "không biết". Người "rao bán" chắc chắn biết được "món hàng" của mình nhưng sử dung sai phương thức truyền đạt. Nói cách khác người "mua" bị mắc lừa vì những lời "quảng cáo" quá tuyệt vời mà thiếu xót việc tìm hiểu kỹ càng và cần thời gian để nhận định hư thực ra sao, sẽ dẫn đến việc xem thường đạo cao quý vì sao lại dễ dàng có được như vậy.

Tóm lại khi hóa độ chúng sanh luôn bao gồm 3 yếu tố chính yếu đó là tài, đức và nhân duyên giữa người truyền đạo và người nhận đạo. Nếu thiếu một trong 3 yếu tố sẽ dẫn đến trắc trở cho cả hai bên sau này và sẽ không được hoàn thiện mỹ mãn. 

http://bechidethuong.blogspot.com/2018/06/cac-loai-bo-thi-khong-can-tien.html

https://hoahao.org/a3683/chanh-van-tu-cau-01-toi-cau-64

http://thuongchieu.net/index.php?option=com_content&view=article&id=3102:tutam&catid=58:ppcanban&Itemid=330

https://www.tinhkhongphapngu.net/Phap-Ngu-khac-cua-HT-Tinh-Khong/MUON-CUU-DO-CHUNG-SANH-TRUOC-PHAI-KHAC-PHUC-PHIEN-NAO-TAP-KHI-CUA-MINH-195/

http://tuvientuongvan.com.vn/ung-dung/tuy-duyen-hoa-do-la-kho-p715.html

http://www.duongvecoitinh.com/index.php/2016/03/muon-do-chung-sanh-phai-co-phuoc-bao-tu-viec-bo-thi/

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1284000895042476&id=225286667580576&substory_index=0

http://blog.xuite.net/liangfulai29062009/twblog/165844819-Nguy%C3%AAn+nh%C3%A2n+c%E1%BB%A7a+%C4%90%E1%BA%A1o+v%C3%A0+Ki%E1%BA%BFp+c%C3%B9ng+gi%C3%A1ng

Tuesday, September 4, 2018

ĐẠO CÓ SẴN TỪ NGÀN XƯA

TRÍCH TRONG KINH MI TIÊN VẤN ĐÁP

139. Đức Thế Tôn là người khai sáng Đạo hay Đạo có sẵn từ ngàn xưa?

- Thưa đại đức! Đạo vốn có sẵn tự ngàn xưa phải chăng?

- Vâng, có tự ngàn xưa, do chư Phật quá khứ đã khai sáng, đã tìm ra.

- Thế sao Đức Thế Tôn của chúng ta lại nói rằng "Như Lai là người làm cho Đạo chưa phát sanh được phát sanh"? Vậy ra lời nói sau lại nghịch ngôn, mâu thuẫn với lời nói trước.

- Chẳng có hai lời sái nghĩa đâu, tâu đại vương! Đạo xưa ấy là nói về Bát chánh đạo, con đường có tám chi; đấy là con đường đi đến giải thoát, chấm dứt sinh tử luân hồi. Chính chư Phật quá khứ sau khi giác ngộ con đường, đã tán dương, tuyên thuyết con đường ấy cho chúng sanh thực hành, noi theo. Nhưng khi các ngài nhập diệt, Bát chánh đạo ấy cũng theo thời gian mà khuất lấp đi, chẳng còn ai biết đến để tu tập nữa. Đến thời Phật Thích Ca, do công hạnh ba-la-mật sâu dày, ngài đã vén mở con đường xưa cũ; đã phát hiện lại con đường, đã phát quang lại con đường, tu tập theo con đường, giác ngộ con đường... cho nên gọi là làm cho con đường được phát sanh! Lý nghĩa ấy thì có gì mâu thuẫn đâu, tâu đại vương?

- Thưa đại đức! Phát sanh là chưa có mà bây giờ lại có, lại sanh ra. Còn Đạo vốn là cái có sẵn nên không thể lập ngôn như vậy được!

- Đại vương nói rất có lý. Nhưng đại vương nghĩ thế nào trong trương hợp viên ngọc mani với đức Chuyển luân Thánh Vương? Phước đức của đức Chuyển luân Thánh Vương từ ngàn xưa có công năng làm cho ngọc mani xuất hiện, gọi là ngọc mani phát sanh đến cho đức Chuyển luân Thánh vương. Nhưng đến khi đức Chuyển luân Thánh vương mãn tuổi thọ, ngọc mani ấy cũng bị biến mất, đến trú ẩn nơi đỉnh núi Vikula. Nhiều đời sau, đức Chuyển luân Thánh vương khác lại ra đời trên thế gian, ngọc mani xuất hiện, lại tìm đến cho đức vua ấy. Thế có thể lập ngôn là ngọc Mani phát sanh đến cho đức Chuyển luân Thánh vương không hở đại vương?

- Có thể được.

- Nghĩa là đức vua ấy không thể tạo ra ngọc mani mà mani ấy vốn có sẵn?

- Đúng vậy.

- Chữ "phát sanh" mà Đức Thế Tôn dùng cũng nằm trong ngữ nghĩa ấy. Đức Thế Tôn không tạo ra Đạo mà Đạo vốn là có sẵn.

- Trẫm hiểu rồi.

- Ngọc mani xưa thần bí, ẩn tàng không ai có thể thấy được, chẳng ai có khả năng làm cho nó lộ diện, chỉ có công năng phước báu của đức Chuyển luân Thánh vương mới làm cho nó phát sanh. Tương tự như thế, Bát chánh đạo sâu kín, mầu nhiệm, khó thấy, khó tìm; chẳng ai trong tam giới có khả năng làm cho Bát chánh đạo hiện hữu; chỉ có công hạnh ba-la-mật sâu dày, trí tuệ vô thượng của Đức Phật mới có công năng làm cho Bát chánh đạo phát sanh giữa cuộc đời.

- Trẫm đã hiểu.

- Lại nữa, ví như người nữ sanh con. Trong bụng người nữ có con mới gọi là người nữ sanh con. Nếu trong bụng người nữ không có con thì người nữ có sanh con được không hở đại vương?

- Chẳng thể nào.

- Đức Phật giác ngộ Bát chánh đạo từ ngàn xưa, ở trong tâm, rồi nói ra bát chánh đạo ấy; cũng như người nữ có con trong bụng, rồi sanh đứa con ấy ra, tâu đại vương!

- Hay lắm!

- Lại nữa, ví như một người đàn ông giàu có, của cải tài sản, châu báu được chôn giấu nhiều nơi; do chiến tranh, loạn lạc, vật đổi, sao dời, người đàn ông không tìm ra tài sản ấy nữa. Sau đó, do cố gắng, do kiên trì, do trí nhớ, ông ta đã tìm lại được. Ấy có thể gọi là làm cho tài sản phát sanh trở lại không, hở đại vương?

- Có thể được.

- Lại nữa, ví như một người đàn ông nọ tự ý vào rừng, nhắm hướng đông tây nam bắc rồi chặt bỏ bụi bờ, gai góc, làm sạch một con đường, thì tình cờ phát hiện một con đường xưa cũ bộ hành qua lại. Tương tự như thế, Đức Thế Tôn cũng là một người đi vào một khu rừng, phát quang bụi bờ gai góc, chợt tìm ra con đường Bát chánh đạo mà chư Phật quá khứ đã đi qua, vốn đã bị thời gian khuất lấp. Trường hợp ấy cũng cùng một ý nghĩa cả, tâu đại vương!

- Trẫm đã hết nghi ngờ rồi, thưa đại đức!

Monday, July 30, 2018

KHAI QUẬT CỔ MỘ VÀ HẬU QUẢ KHÔNG LƯỜNG - AI CẬP HUYỀN BÍ

Những người khai quật các mồ mả của xứ cổ Ai Cập đã giải tỏa những sức mạnh nguy hiểm cho thế gian. Những nhà khảo cổ cũng như những kẻ đào mồ để cướp của, đã vô tình khai quật mồ mả của những kẻ ngày xưa thực hành khoa tả đạo bàng môn.
 
Trong hầu hết mọi trường hợp, trước khi chết mỗi người đều lo sắp đặt mọi việc và đã chuẩn bị sẵn ngôi mộ của mình từ khi còn sống. Khi đã sắp đặt xong thì đương sự hoặc một vị tăng lữ thông thạo khoa pháp môn mới kêu gọi một âm binh hay quỉ thần, có khi là một vị thần tốt lành nhưng thường thì là thần hung ác, để bảo vệ trông nom cái xác ướp của y và làm thần canh gác giữ mồ.
 
Trong trường hợp xác ướp là của một người có ít nhiều hiểu biết về khoa pháp môn hoặc đặt dưới sự trông nom của các nhà phù thủy, thì những vị thần linh được kêu gọi để giữ gìn mồ mả và trừng phạt những kẻ đào mồ.


Những phù phép bí mật đó thường là vô cùng nguy hiểm nhưng rất hiệu nghiệm. Những mãnh lực thần bí của nó vẫn có trong những ngôi mộ khép chặt và có thể tiếp tục tồn tại ở trong đó suốt nhiều ngàn năm. Bởi vậy những nhà khảo cổ vô tình khai quật những mồ mả đó sẽ chuốc lấy những điều tai họa hiểm nghèo.
 
Nhưng nếu cơ nguy đó chỉ hăm dọa sự an toàn tính mạng của các nhà khảo cổ và gia đình họ mà thôi thì điều mà tôi muốn nói đây không có gì quan trọng lắm. Trái lại, vấn đề này có liên hệ đến sự an toàn của toàn thể thế giới. Ðó là vì trong số những ngôi mộ của các nhân vật quyền quí và tăng lữ mà người ta khai quật lên, có những mồ mả được đặt dưới sự giữ gìn và bảo vệ nói trên. Từ trong các ngôi mộ đó, hằng hà sa số những âm binh ác quỷ bị giam hãm trong ấy từ lâu, bèn kéo ra tràn đầy khắp nơi ở cõi thế gian. Mỗi xác ướp được bốc ra và chở về những viện bảo tàng bên Âu Mỹ có mang theo những vị thần linh cùng với cái ảnh hưởng khốc hại của nó.



Ðiều đó chỉ có thể đem đến cho thế giới những hậu quả tai hại, hậu quả với những tính chất khác nhau, thậm chí có thể gây một ảnh hưởng phá hoại đối với vận mệnh các quốc gia.
 
Những người Tây phương vì không có phương pháp tự vệ chống lại nên đành chịu bất lực trước những kẻ vô hình đó. Khi thế giới chúng ta hiểu rằng có nhiều thần linh hung ác bị nhốt trong những ngôi mộ cổ, thì chừng đó có thể đã là quá trễ. Vì lúc đó tất cả các mồ mả đều đã bị khai quật và những hung thần ác quỉ đã thoát ra khỏi mồ. Chúng có thể gây nhiều điều ác hại cho thế gian, và ngoài ra chúng còn gây nên những vụ phản bội trên lãnh vực quốc tế. Sự mù quáng của con người đối với những luật thiên nhiên không vì thế mà không đem sự đau khổ cho những kẻ vi phạm. Không biết gì về những mãnh lực khốc hại của khoa pháp môn phù thủy không phải là một lý do để tránh cho thế kỷ này khỏi bị cái hậu quả trừng phạt dành cho những kẻ đột nhập vào những chốn thâm nghiêm, một hành động tò mò không cần thiết chút nào cho họ.
 
Những vật gì mà người ta lấy ra từ trong các ngôi mộ cổ cùng với những xác ướp, vàng ngọc, bùa chú, y phục... đều có thấm nhuần cái ảnh hưởng thần bí của ngôi mộ. Nếu ảnh hưởng đó không phải do người ta đã dùng phù phép trấn ếm quỉ thần thì việc khai quật mồ mả không có hậu quả gì, còn nếu ngôi mộ có thần linh gìn giữ thì việc đào mồ cướp của sẽ gây nên tai họa hiểm nghèo. Những nhà khảo cổ và Ai Cập học trái lại, thường không biết rõ điều đó và không biết phân biệt những ngôi mộ nào là có phù phép trấn ếm và ngôi mộ nào là không, nên họ khai quật luôn cả thứ nọ cũng như thứ kia.


Nhưng dù người ta có biết hay không, tôi cũng muốn đưa ra cho thế giới một thông điệp này: “Chớ nên động chạm đến các ngôi mộ cổ mà người ta không hiểu được tính chất hiển linh huyền bí của nó.” Người đời phải dừng tay lại ngay, không nên khai quật các mồ mả cho đến khi nào họ có được sự hiểu biết đầy đủ để nhận định được những hậu quả khốc hại của điều mà họ muốn làm.
 
Trong những năm tới đây, thế giới còn phải đau khổ nhiều và phải chịu hậu quả những sự xúc phạm mồ mả của những bậc tiền nhân thời cổ Ai Cập.
 
Vậy ông hãy ghi chép và truyền bá những lời cảnh cáo này. Bây giờ ông đã hiểu lý do của sự gặp gỡ giữa chúng ta. Dẫu cho chúng ta có bị sự chống đối, khinh bị do sự dốt nát vô minh của người đời, ta cũng làm xong bổn phận mình, bổn phận của tôi, và nếu ông muốn, đó sẽ là bổn phận của ông. Ðịnh luật thiên nhiên vốn không tha thứ sự vô minh, dốt nát, nhưng trong vấn đề này, thậm chí đến cái lý lẽ đó người ta cũng không được viện ra để tự bào chữa cho mình.


Thông điệp của chân sư Ramak-Hotep đã chấm dứt. Tôi đã ghi chép lại đúng y nguyên văn và trình bày nơi quyển sách này.
 
 
- Tôi muốn các ông ghi nhận một điều này, các ông có thể coi đó như một lời tiên đoán hay cảnh cáo trước cũng được. Thời gian sắp đến sẽ là một giai đoạn cực kỳ tiến bộ về tri thức, nhưng thoái bộ về tâm linh. Mọi sự hiểu biết chỉ nhắm vào hiện tượng thay vì nguyên nhân bản chất. Do đó, nền khoa học tương lai không thể chuyển biến được lòng người hoặc giúp cho con người có cái nhìn sáng suốt, có được một tâm hồn bình an. Nền “khoa học hiện tượng” chỉ kích thích giác quan, cảm xúc hướng ngoại sẽ khiến cho con người cực kỳ bất mãn, lo âu và trở nên hoang mang phiêu bạt.
 
- Thêm vào đó, sự khai quật các ngôi cổ mộ Ai cập sẽ tháo củi xổ lồng cho vô số âm binh, các động lực cực kỳ hung dữ. Như tôi vừa kể với các ông, thời kỳ chót của nền văn minh Ai cập, các giáo sĩ đã thực hành tà thuật tối đa, mà khoa ướp xác là một bí thuật mang sự liên lạc của cõi vô hình vào cõi trần. Tất cả các ngôi mộ cổ đều là nơi giam giữ các động lực vô hình để canh giữ, duy trì ảnh hưởng tà môn. Khi được tháo củi xổ lồng, chúng sẽ mang nền tà giáo cổ Ai cập trở lại thế kỷ này. Dĩ nhiên, dưới một hình thức nào nó hợp thời hơn.
 
- Một số pháp sư vốn là sứ giả cõi âm sẽ đầu thai trở lại, hoặc nhập xác để tác oai, tác quái, tái tạo một xã hội tối tăm, sa đoạ, đi ngược trào lưu tiến hoá của thượng đế. Thế giới sẽ trở thành nạn nhân của thứ tôn giáo ma quái này.. Chiến tranh, đau khổ, bất an cùng các kích thích của cảm giác mới lạ do nền “khoa học hiện tượng” mang lại, sẽ thúc đẩy con người vào các cùng cực của cuộc sống. Trong thời buổi này, khối óc lý trí không giúp được gì mà chỉ có sự hiểu biếtý thức bản chất thầm lặng của nội tâm mới đáp ứng được. Đó là lối thoát duy nhất mà thôi.
 
Giáo sư Allen ngắt lời :
 
- Nhưng đã có bằng chứng gì về sự hiện diện của các động lực vô hình này. Làm sao có thể cảnh cáo mọi người về sự trở lại của pháp sư thời cổ ? Người Âu Mỹ sẽ chẳng bao giờ chấp nhận một điều hoang đường, vô lý nếu không có bằng chứng rõ rệt.
 
Hamud mỉm cười bí mật :
 
- Cõi âm là đối tượng nghiên cứu của tôi, nên tôi có thể trình bày một vài dữ kiện để các ông suy nghiệm, như một bằng chứng. Chuyện xảy ra đã bắt đầu xảy ra, theo thời gian các ông sẽ thấy. Dù các pháp sư tà đạo thời cổ này có khéo léo dẫn dụ con người bằng những danh từ hoa mỹ, những chủ thuyết đẹp đẽ thế mấy đi nữa, thì họ vẫn chỉ có thể sống như một con người. Dù thế nào họ cũng không thể bỏ qua các thói quen cũ của quá khứ, họ sẽ đội lốt tôn giáo, họ sẽ kêu gọi sự hợp tác của thần quyền, họ sẽ đặt ra các giáo điều mới, thay thế các chân lý cao đẹp để lôi kéo con người từ bỏ thượng đế. Họ sẽ sử dụng danh từ, ngôn ngữ để đánh lạc hướng mọi người, tuy nhiên trước sau gì họ cũng phải chết và trước khi chết, họ sẽ di chúc yêu cầu ướp xác họ và xây dựng những nhà mồ vĩ đại bằng đá như họ đã từng làm trong quá khứ…
 
Giáo sư Allen bật cười :
 
- Như vậy thì nhận diện họ quá dễ, nhưng tôi không tin thời buổi này còn ai ướp xác, xây cất nhà mồ như vậy, ông nên nhớ chúng ta đã bắt đầu vào thế kỷ 20, không phải tám ngàn năm trước?
 
Hamud mỉm cười :
 
- Rồi các ông sẽ thấy, tôi mong các ông ghi chép những điều này cẩn thận rồi đúng hay sai thời gian sẽ trả lời.
 

Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn

Ngã chia làm 2: bản ngã (vọng tâm) và chơn ngã (chơn tâm). Quán chiếu nội tâm, tìm Bản Tâm, Vọng Tâm mà biến, hiện Chân Tâm. Chân Tâm rạng r...