Friday, June 29, 2018

CÔNG TRUYỀN VÀ BÍ TRUYỀN

Công truyền nói dễ hiểu là truyền bá rộng rãi cho đại chúng ai cũng có thể nghe theo học theo.


Từ lâu, trong Phật giáo có những pháp môn mật truyền được trao dạy cho các đạo hữu nhưng không được quảng bá nhiều vì chưa đúng thời kỳ của nó.


Khi trình độ con người chưa đến lúc, thì có những điều chưa thể công bố được. Các bậc giáo chủ ngày trước đã giảng dạy chân lý làm thành hai phần, Công truyền và Bí truyền . Tại sao các ngài lại dạy riêng cho một thiểu số môn đồ giáo lý Bí truyền? Phải chăng các ngài biết chỉ một thiểu số người mới có thể lãnh hội được những điều ngài giảng dạy. Khoa học nghiên cứu về cõi âm cũng có những sự nguy hiểm riêng của nó, không thể truyền dạy bừa bãi cho tất cả mọi người.




Nói cách khác, khi cầm tiền tỷ làm từ thiện, ai cũng cân nhắc xem có đúng người, đúng lúc, đúng thời mới trao tiền cho người nghèo khó. Như vậy đạo trời thoát khỏi sanh tử luân hồi so với số tiền tỷ cái nào quý giá hơn, dĩ nhiên đạo thoát luân hồi quý hơn tiền tỷ, không thể nào bừa bãi đem cho ai cũng được, mà cũng phải gặp đúng người, đúng lúc, đúng thời mới truyền đạo.
Bí truyền (còn gọi là mật truyền) không có nghĩa là hoàn toàn bí mật không ai có thể biết, mà là truyền đúng lúc, đúng thời và đúng người; tức là tùy theo căn cơ, phúc đức và nhân duyên mà được chỉ điểm đạo (những bí mật điểm đạo kỳ diệu).

Ví dụ: Các yếu tố quan trọng của Mật tông là phép niệm chân ngôn, phép bắt ấn và sử dụng Mạn-đồ-la cũng như các lần Quán đỉnh. Mật tông là giáo pháp mà sư phụ truyền cho học trò bằng lời (khẩu quyết) và đó là lý do mà Mật tông không được truyền bá rộng rãi. Thật ra, sau này do nhiều pháp sư lạm dụng sự huyền bí của chơn ngôn nên Mật tông dần co cụm lại và truyền thụ cho những người có duyên với pháp môn này.




Có người cho rằng tại sao phải bí mật, trên đời này không có gì là bí mật, và cho đó là ích kỷ. Phật Thích Ca có rất nhiều đệ tử, nhưng chỉ điểm đạo cho một tổ Ma Ha Ca Diếp, lúc đó tất cả đều ngơ ngác không hiểu. Vào thời nhị kỳ chỉ có vua chúa, tổ sư mới được truyền đạo mà thôi.


Nhắc lại Tôn Hành Giả và Lục tổ Huệ năng đều có một điểm chung là được sư phụ gõ 3 cái ngụ ý canh 3 đến gặp tại thư phòng, có màn che lại. Đó là lúc được truyền đạo (điểm đạo) bí truyền người ngoài không được thấy. Từ đó ta thấy việc điểm đạo này được truyền một cách bí mật (không công khai) giữa thầy và trò từ cổ chí kim, và cũng không có nghĩa là không truyền cho ai. Nếu bạn cố chấp chẳng chịu hiểu thì nói cách nào cũng là vô dụng.


Từ xưa đến nay đạo thoát sanh tử không dễ gì được nghe, không dễ gì được truyền. Lời nói thật không nghe lọt lỗ tai nhưng rất quý giá vô cùng. Nếu vì tự ái, tự cao, cố chấp, ngã mạn bỏ qua, chẳng khác nào vua Lương Võ Đế bỏ qua cơ hội ngàn vàng gặp Đạt Ma Tổ Sư mà để vuột mất tầm tay, sau này sai binh lính đến triệu về cũng không được. Uổng thay! Tiếc thay! Cũng chỉ nhà vua tự ái vì những câu nói thẳng thừng của Tổ.




Từ xưa chân kinh chẳng ở trên giấy. Chơn kinh chẳng ở trên văn tự kinh điển, cho nên Thế Tôn nói: chánh pháp nhãn tạng. Văn tự xem qua rồi, nói nhiều rồi, nó rốt cuộc vẫn là văn tự.

Thượng đẳng tu hành ngộ giác tánh, trung đẳng tu hành chấp văn tự, hạ đẳng tu hành trọng hiển hóa. Ngũ Tổ vì Lục Tổ mà giảng giải Kim Cang Kinh vào nửa đêm canh ba, dùng ca sa che lấy chẳng để cho người khác thấy. Nếu như chỉ là giảng kinh, vì sao chẳng để cho người khác thấy ? Bởi vì đang thụ một chỉ điểm. Điểm đạo ấy chính là phép điểm đạo không qua chữ nghĩa (bất lập văn tự), phải do một vị thầy có Thiên mệnh truyền cho mới đúng pháp.


Vì vậy Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma có bài kệ rằng:


Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhơn tâm
Kiến tánh thành Phật.

Đây là bài kệ xuất phát từ Trung Hoa và viết bằng chữ Hán. Bài nầy được dịch ra tiếng Việt như sau:

Chẳng lập văn chữ
Ngoài giáo riêng truyền
Chỉ thẳng tâm người
Thấy Tánh thành Phật.



Đạt Ma Tổ Sư là tổ thứ 28 tính từ tổ thứ nhứt Ma Ha Ca Diếp được Phật Thích Ca truyền (điểm) đạo.


Đạt Ma Tây lai nhất tự vô,
Toàn bằng tâm ý dụng công phu,
Nhược yếu chỉ thượng tầm Phật pháp,
Bút tiêm trám can Động Đình Hồ.

Dịch nghĩa:

Đạt Ma từ phương Tây đến không mang theo một chữ,
Toàn ở nơi tâm dụng công phu,
Nếu như trên giấy tìm được Phật pháp,
Tựa như bút lông chấm cạn hồ Động Đình

(Dựa vào văn tự trên giấy mà muốn tìm pháp môn siêu sanh liễu tử cũng giống như bánh vẽ trên giấy, có thể ăn no bụng không? Chẳng khác nào lấy cát mà nấu cơm; leo cây mà tìm cá vậy!)

Chớ có bận rộn (mù quáng) nữa, Đạt Ma từ tây đến, chỉ để lại “ nhất tâm ” “ đại pháp ấn ” này, đắc được cái này gọi là “ đắc đạo ”, mất cái này gọi là “ thất đạo ”. Người đời kinh sách đầy bụng, chẳng biết tiêu hoá, chạy nơi này nơi nọ, hôm nay chỗ nào linh thì đến chỗ ấy, ngày mai chỗ nào ổn thì đến chỗ ấy, chui qua lách lại, tro bụi đầy mặt, ha ha!




Sách viết: Ông Minh Tánh hỏi: Ðời nay, tăng nhơn xưng mình là đại hòa thượng, có đắc đạo chăng?


Ðáp: Kẻ kia miệng xưng đại hòa thượng, truyền phép trên giấy, truyền câu chữ phàm, là giả danh, cũng như ca nhi ở trên sân khấu làm vua, tôi, cha, con, chớ nguyên là con hát vậy..... Hễ tu luyện thì phải có lời truyền khẩu quyết của minh sư mới rõ đặng sự huyền diệu.... Những kẻ ấy không rõ đặng đạo lý, biết đâu mà dạy người khác đặng…

Người đời nếu tưởng rằng niệm kinh thì có thể thành đạo, thử hỏi đức Như Lai, Khổng Tử, Lão Quân niệm kinh điển gì mà thành?

Đan Kinh rằng : “Dù bạn thông minh hơn Nhan Hồi, chẳng gặp Minh Sư chớ đoán mò, đọc thuộc cả ngàn kinh vạn điển, chẳng bằng một điểm của Minh Sư”, lại rằng: “ Đọc sách vạn quyển một khiếu chẳng thông, bụng đầy văn chương chẳng rõ sanh tử”. Đó là bất nhị pháp môn (pháp môn có một không hai) nói trong kinh Duy Ma Cật, là vô tự chơn kinh (kinh không có chữ), cũng là chánh pháp nhãn tạng đức Thế Tôn đã được Nhiên Đăng Cổ Phật truyền cho (còn gọi là thọ ký cho). Chánh pháp nhãn tàng là pháp môn không hai để thành Phật, tức là “bái Minh Sư cầu đạo”, tiếp nhận “Pháp Hoa thọ kí” của Phật, đó mới là “Như Lai chơn thật nghĩa", là một chỉ của Minh Sư (còn gọi là chỉ nguyệt, chỉ trăng, chỉ điểm, truyền hay điểm đạo, hay một chỉ tay của Minh Sư).




Ngày nay cũng như trong quá khứ, các giáo lý và thực hành Mật tông cao nhất chỉ được khẩu truyền và được giữ bí mật tuyệt đối giữa vị thầy và đệ tử. Do năng lực siêu phàm của những giáo lý này, cần phải xác nhận rằng đệ tử phải được chuẩn bị kỹ lưỡng để thọ nhận chúng. Một vị thầy đích thực thường sẽ kiểm tra đệ tử của mình trong 6 đến 12 năm hoặc lâu hơn nữa trước khi trao truyền những giáo lý cao cấp hơn.

Tóm lại, nếu bạn có tâm thành tất có ứng, bạn có thể tìm được Thiên mệnh chơn sư điểm đạo cho mình. Cũng không có nghïa tụng kinh trì giới là không cần, nhưng đó là tu phước, không thể thoát ly sanh tử luân hồi. Nếu được vãng sanh cũng chỉ về trung giới, sau khi hưởng hết phước vẫn bị tái sanh trở lại (làm người hay làm súc sanh vẫn chưa biết). Hiểu rõ ràng như vậy để bạn chọn hướng đi thích hợp nhất cho mình, không bị ngoại cảnh làm cho khó phân biệt giả chơn.


Trong Thời Kỳ Mạt Pháp, giáo phái rất nhiều, chỉ cần quy y tu hành là được, cần gì phải cầu Đạo?



Trong thời kỳ mạt kiếp, vạn giáo tề pháp, có đến 3600 tả đạo. 72 loại bàng môn, 96 loại ngoại đan pháp, mỗi một môn phái đều tự cho rằng có Minh Sư, có Thiên Mệnh, quả thật là bể Đạo mênh mông, chân giả khó phân. Nếu không có căn cơ thâm hậu, tổ ơn cao dày thì khó gặp chân Đạo mà uổng công tu hành. Giáo phái tuy nhiều nhưng không ngoài Thuật, Lưu, Động, Tĩnh, gọi tắt là: tứ quả bàng môn ( bàng là bên cạnh, môn là cửa, có nghĩa là cửa hông mà không phải là cửa chánh ).


+ Thuật: là pháp thuật, như vẽ bùa niệm chú, gọi gió cầu mưa, cỡi mây độn thổ, rắc đậu thành binh...

+ Lưu: Vân du thiên hạ, nay đây mai đó, thay người xem thiên văn địa lý, chiêm bốc coi tướng, chữa bệnh..

+ Động: Hái thuốc luyện đơn, luyện tập quyền cước cho thân vững chắc, có sức mạnh ngàn cân, đao thương bất nhập...

+ Tĩnh: Ngồi thiền quán tâm, lấy càn khôn làm đỉnh lư, can phế làm long hổ, dùng phương pháp thổ nạp vận châu thiên…



Thơ viết:




Đạo pháp ba ngàn sáu trăm môn
mỗi người nắm giữ một diệu căn,
Duy có một điểm huyền quan khiếu,
chẳng ở ba ngàn sáu trăm môn.


Đạo là đốn pháp thượng thừa, ở ngoài 3600 pháp môn. Do Đạo của Thượng Đế phi thời bất giáng, phi nhân bất truyền. Nay đương thời phổ độ, Minh Sư ứng vận truyền Đạo, nếu cố chấp lấy kỷ kiến, một khi thời vận qua rồi, thuyền đã rời bến, chẳng tiếc lắm sao!!!



Chân kinh chẳng ở trên giấy, nếu như có thể viết chân kinh ở trên giấy, vậy thì không gọi là chân kinh, gọi là kinh có chữ. Vô Tự Chân Kinh chẳng phải là có thể viết trên giấy, và tam bảo của trên báo xuất bản vốn chẳng có sự ấn chứng của thiên mệnh. Nếu như trong số các con có người biết tam bảo mà huyền quan chưa mở, vậy thì vẫn là chưa được cứu cánh rốt ráo.



Giảng Kinh thuyết Pháp là tu Huệ. Ngồi Thiền là tu Ðịnh. Không nói lời tạp nhạp là tu Giới.

Lễ Phật tức là lễ tự tánh Phật, lễ bái vị Phật trong tự tánh của mình.

Lục Tổ trong bài vô tướng tụng bảo rằng :

Mê nhơn tu phước bất tu đạo,
Chỉ ngôn tu phước tiện thị đạo,
Bố thí cúng dường phước vô biên,
Tâm trung tam ác nguyên lai tạo,
Nghĩ tương tu phước dục diệt tội,
Hậu thế đắc phước tội hườn tại.
Ðản hướng tâm trung trừ tội duyên;
Các tự tánh trung chơn sám hối.
Hốt ngộ đại thừa chơn sám hối,
Trừ tà hành chánh tức vô tội.




Dịch nghĩa:




Kẻ mê tu phước chẳng tu đạo,
Chỉ cho tu phước tức là đạo.
Bố thí cúng dường phước vô biên,
Trong tâm tam ác vẫn còn tạo.
Muốn dùng tu phước để diệt tội,
Kiếp sau được phước, tội vẫn còn.
Nhân duyên tội ác trừ nơi tâm,
Hướng vào tự tánh chơn sám hối.
Hoát ngộ đại thừa chơn sám hối,
Tà dứt hạnh chánh tức vô tội.





Phàm phu thường là:




Ân ái vợ con không nỡ rời.
Thói hư tật xấu không nỡ sửa.
Công danh phú quý không nỡ buông.
Vàng bạc tiền tài không nỡ xài.
Không nỡ rời chính là gánh nặng.

Có người tu hành lâu năm nghe qua đã phán rằng "trên đời này làm gì có chuyện giáng điển, hay làm gì có chuyện chơn thần đi được lên trời". Lời nói của một nhà tu mà nói chuyện giống như một kẻ vô thần. Nên nhớ rằng trên đời này có rất nhiều chuyện không thể biết hết được, những chuyện mình không biết thì rất nhiều, nhưng mình vô minh không biết cũng không có nghĩa là không có. Khi một người khoác áo nhà tu vào mình cũng không có nghĩa sẽ biết hết tất cả, đặc biệt nếu họ chưa từng nghe thấy qua, hoặc chưa từng tự mình chứng đắc thì cũng như ếch ngồi đáy giếng không biết trời cao đất rộng là gì, chẳng khác nào người mù xem voi chỉ biết đạo ở khía cạnh mình đã được sờ vào con voi mà thôi, chẳng biết hết được bộ mặt thật con voi ra sao, nếu chẳng may diễn nói đạo theo ý riêng "sờ voi" của mình thì thật đáng thương thay cho một thế hệ nghe theo người mù sờ đạo.




Thánh Nhân cầu tâm chẳng cầu Phật
Kẻ ngu cầu Phật chẳng cầu Tâm
Thượng đẳng tu hành ngộ giác tánh
Trung đẳng tu hành chấp văn tự
Hạ đẳng tu hành trọng hiển hóa.



---




MẬT TÔNG LÀ GÌ?

Hỏi: Mật Tông là gì?

Đáp: Mật Tông là một tông phái của Đạo Phật dùng các “MẬT NGỮ” của chư Phật làm phương tiện tu hành.

Hỏi: MẬT NGỮ là gì?

Đáp: Mật ngữ có nghĩa là “lời nói kín”. Mật ngữ còn gọi là “Chân ngôn” (lời nói chân thật). Mật ngữ còn gọi là “Chú”, đây là tiếng thông thường người đời hay dùng nhất.

Chú cũng có nghĩa là lời nói bí mật.

Hỏi: Tại sao nói là bí mật?

Đáp:

 - Bí mật vì nó không được giải nghĩa.
 - Bí mật vì chỉ có chư Phật mới hiểu trọn vẹn.
 - Bí mật vì tùy trình độ, căn cơ và sự ứng dụng mà mỗi người một khác, đạt một kết quả khác.
 - Bí mật vì nó chỉ được thông đạt qua Tâm truyền Tâm, giữa thầy trò, giữa chư Phật (hoặc người nói ra chân ngôn) với hành giả. Điều này chỉ người nào tu Mật rồi mới chứng nghiệm được).
 - Bí mật vì kết quả đạt được tùy Tâm hành giả.

Hỏi: Tại sao lại dùng “Chú” làm phương tiện tu hành?

Đáp: Tu theo đạo Phật có rất nhiều cách để đi tới “cứu cánh giải thoát”, có người niệm Phật, có người tụng kinh, có người ngồi Thiền, vậy thì dùng “Chú” cũng chỉ là mượn xe đi đến đích mà thôi.

Hỏi: Tại sao lại chọn “Chú” mà không dùng các cách niệm Phật, tụng kinh?

Đáp: Trong một cuộc hành trình muốn đi tới một điểm nào đó, người ta thường thích chọn xe nào đi cho nhanh và thỏai mái. Vậy thì việc chọn “Chú” mà không dùng các phương tiện khác là như thế.

Hỏi: Tại sao lại nói dùng “Chú” là phương tiện đi nhanh?

Đáp: Vì dùng “Chú” thì ngoài “tự lực” của mình còn nhờ “tha lực”, giống như đi thuyền biết trương buồm nên nhờ được gió đẩy mà đi nhanh hơn.

Hỏi: Thế nào là “tự lực” và “tha lực”?

Đáp: “Tự lực” là dựa vào sức của chính mình mà thành việc. “Tha lực” là nhờ vào sức khác ở ngoài mình trợ giúp. Người tu Mật Tông nói đến tha lực là nói đến sức hỗ trợ vô hình từ các cõi xuất thế gian đưa đến.

Hỏi: Tại sao lại phải nhờ vào tha lực?

Đáp: Bởi vì sức người có hạn mà sức ngoài thì vô hạn, nếu ta biết nương vào sức đó thì sẽ giúp ta sớm đạt kết quả.

Hỏi: Nhờ đâu ta có tha lực hỗ trợ?

Đáp: Nhờ ở chân ngôn tức “Chú”.

Hỏi: Căn cứ vào đâu mà nói “Chú” có tha lực giúp ta mau thành tựu?

Đáp: Điều này thuộc về bí mật, mà chỉ có thể chứng minh được bằng:

- Đức tin của mình,
- Sự chứng nghiệm, và
- Cảm nhận.
- Kết quả chỉ được chứng minh khi đã hành trì.

Hỏi: “Chú” do đâu mà có?

Đáp: “Chú” do TÂM Phật mà có. “Chú” do lòng thương xót chúng sinh mà có. Chư Phật, chư Bồ tát hoặc các vị khác khởi từ tâm chân thật, từ lòng thương xót chúng sinh mà nói ra “Chú” để cứu độ. Vì “Chú” phát xuất từ TÂM CHÂN THẬT nên mới gọi là “Chân ngôn”.

Hỏi: Đọc “Chú” có lợi ích gì?

Đáp: Vì “Chú” xuất phát từ chỗ vô hạn là Tâm Phật nên lợi ích của nó cũng vô cùng, không thể kể hết. Tuy nhiên, đối với người tu thì lợi ích đứng đắn và thiết thực nhất là: “Chú” giúp ta được tìm cầu giải thoát mau chóng và giúp người khác cùng tiến với ta. Còn các lợi ích khác như có thần thông, trừ tà ma, chữa bệnh chỉ là phụ, không nên nhìn “Chú” bằng con mắt hạn hẹp đó.

Hỏi: Những ai đọc “Chú” được?

Đáp: “Chú” là phương tiện của Phật cho mượn nên ai mà chẳng có quyền đọc. Tuy nhiên khi ta mượn một cái xe thì điều cần thiết là ta có biết sử dụng nó hay không. Nếu không thì xe sẽ trở thành một trở ngại, một khó khăn cho ta, làm cho ta dừng lại với xe mà không tiến được trên đường Đạo. Bởi vậy, những người biết lái xe, hiểu bệnh của xe, phải là những người được huấn luyện chuyên môn. Do đó đọc “Chú” thì ai cũng có thể đọc được, nhưng có kết quả hay không, nhiều hay ít, đó mới là vấn đề, ấy là chưa nói đến cái hại có thể đến nữa.

Nói thế không hẳn là chỉ những người tu chân ngôn mới được đọc “Chú” mà bất cứ ai nếu với tâm thành thật, hướng đến sự tốt lành cho mình, cho người, vẫn có thể dùng “Chú” mà vẫn thấy linh nghiệm.

Hỏi: Đọc “Chú” đòi hỏi những điều kiện gì?

Đáp: Đương nhiên là cần một số điều kiện. Thông thường ta phải có:

- Sự tin tưởng vững chắc vào “Chú”,
- Lòng thành khẩn khi đọc,
- Hướng về làm lợi ích cho tha nhân hay các chúng sanh.

Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn

Ngã chia làm 2: bản ngã (vọng tâm) và chơn ngã (chơn tâm). Quán chiếu nội tâm, tìm Bản Tâm, Vọng Tâm mà biến, hiện Chân Tâm. Chân Tâm rạng r...