Friday, June 29, 2018

CÔNG TRUYỀN VÀ BÍ TRUYỀN

Công truyền nói dễ hiểu là truyền bá rộng rãi cho đại chúng ai cũng có thể nghe theo học theo.


Từ lâu, trong Phật giáo có những pháp môn mật truyền được trao dạy cho các đạo hữu nhưng không được quảng bá nhiều vì chưa đúng thời kỳ của nó.


Khi trình độ con người chưa đến lúc, thì có những điều chưa thể công bố được. Các bậc giáo chủ ngày trước đã giảng dạy chân lý làm thành hai phần, Công truyền và Bí truyền . Tại sao các ngài lại dạy riêng cho một thiểu số môn đồ giáo lý Bí truyền? Phải chăng các ngài biết chỉ một thiểu số người mới có thể lãnh hội được những điều ngài giảng dạy. Khoa học nghiên cứu về cõi âm cũng có những sự nguy hiểm riêng của nó, không thể truyền dạy bừa bãi cho tất cả mọi người.




Nói cách khác, khi cầm tiền tỷ làm từ thiện, ai cũng cân nhắc xem có đúng người, đúng lúc, đúng thời mới trao tiền cho người nghèo khó. Như vậy đạo trời thoát khỏi sanh tử luân hồi so với số tiền tỷ cái nào quý giá hơn, dĩ nhiên đạo thoát luân hồi quý hơn tiền tỷ, không thể nào bừa bãi đem cho ai cũng được, mà cũng phải gặp đúng người, đúng lúc, đúng thời mới truyền đạo.
Bí truyền (còn gọi là mật truyền) không có nghĩa là hoàn toàn bí mật không ai có thể biết, mà là truyền đúng lúc, đúng thời và đúng người; tức là tùy theo căn cơ, phúc đức và nhân duyên mà được chỉ điểm đạo (những bí mật điểm đạo kỳ diệu).

Ví dụ: Các yếu tố quan trọng của Mật tông là phép niệm chân ngôn, phép bắt ấn và sử dụng Mạn-đồ-la cũng như các lần Quán đỉnh. Mật tông là giáo pháp mà sư phụ truyền cho học trò bằng lời (khẩu quyết) và đó là lý do mà Mật tông không được truyền bá rộng rãi. Thật ra, sau này do nhiều pháp sư lạm dụng sự huyền bí của chơn ngôn nên Mật tông dần co cụm lại và truyền thụ cho những người có duyên với pháp môn này.




Có người cho rằng tại sao phải bí mật, trên đời này không có gì là bí mật, và cho đó là ích kỷ. Phật Thích Ca có rất nhiều đệ tử, nhưng chỉ điểm đạo cho một tổ Ma Ha Ca Diếp, lúc đó tất cả đều ngơ ngác không hiểu. Vào thời nhị kỳ chỉ có vua chúa, tổ sư mới được truyền đạo mà thôi.


Nhắc lại Tôn Hành Giả và Lục tổ Huệ năng đều có một điểm chung là được sư phụ gõ 3 cái ngụ ý canh 3 đến gặp tại thư phòng, có màn che lại. Đó là lúc được truyền đạo (điểm đạo) bí truyền người ngoài không được thấy. Từ đó ta thấy việc điểm đạo này được truyền một cách bí mật (không công khai) giữa thầy và trò từ cổ chí kim, và cũng không có nghĩa là không truyền cho ai. Nếu bạn cố chấp chẳng chịu hiểu thì nói cách nào cũng là vô dụng.


Từ xưa đến nay đạo thoát sanh tử không dễ gì được nghe, không dễ gì được truyền. Lời nói thật không nghe lọt lỗ tai nhưng rất quý giá vô cùng. Nếu vì tự ái, tự cao, cố chấp, ngã mạn bỏ qua, chẳng khác nào vua Lương Võ Đế bỏ qua cơ hội ngàn vàng gặp Đạt Ma Tổ Sư mà để vuột mất tầm tay, sau này sai binh lính đến triệu về cũng không được. Uổng thay! Tiếc thay! Cũng chỉ nhà vua tự ái vì những câu nói thẳng thừng của Tổ.




Từ xưa chân kinh chẳng ở trên giấy. Chơn kinh chẳng ở trên văn tự kinh điển, cho nên Thế Tôn nói: chánh pháp nhãn tạng. Văn tự xem qua rồi, nói nhiều rồi, nó rốt cuộc vẫn là văn tự.

Thượng đẳng tu hành ngộ giác tánh, trung đẳng tu hành chấp văn tự, hạ đẳng tu hành trọng hiển hóa. Ngũ Tổ vì Lục Tổ mà giảng giải Kim Cang Kinh vào nửa đêm canh ba, dùng ca sa che lấy chẳng để cho người khác thấy. Nếu như chỉ là giảng kinh, vì sao chẳng để cho người khác thấy ? Bởi vì đang thụ một chỉ điểm. Điểm đạo ấy chính là phép điểm đạo không qua chữ nghĩa (bất lập văn tự), phải do một vị thầy có Thiên mệnh truyền cho mới đúng pháp.


Vì vậy Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma có bài kệ rằng:


Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhơn tâm
Kiến tánh thành Phật.

Đây là bài kệ xuất phát từ Trung Hoa và viết bằng chữ Hán. Bài nầy được dịch ra tiếng Việt như sau:

Chẳng lập văn chữ
Ngoài giáo riêng truyền
Chỉ thẳng tâm người
Thấy Tánh thành Phật.



Đạt Ma Tổ Sư là tổ thứ 28 tính từ tổ thứ nhứt Ma Ha Ca Diếp được Phật Thích Ca truyền (điểm) đạo.


Đạt Ma Tây lai nhất tự vô,
Toàn bằng tâm ý dụng công phu,
Nhược yếu chỉ thượng tầm Phật pháp,
Bút tiêm trám can Động Đình Hồ.

Dịch nghĩa:

Đạt Ma từ phương Tây đến không mang theo một chữ,
Toàn ở nơi tâm dụng công phu,
Nếu như trên giấy tìm được Phật pháp,
Tựa như bút lông chấm cạn hồ Động Đình

(Dựa vào văn tự trên giấy mà muốn tìm pháp môn siêu sanh liễu tử cũng giống như bánh vẽ trên giấy, có thể ăn no bụng không? Chẳng khác nào lấy cát mà nấu cơm; leo cây mà tìm cá vậy!)

Chớ có bận rộn (mù quáng) nữa, Đạt Ma từ tây đến, chỉ để lại “ nhất tâm ” “ đại pháp ấn ” này, đắc được cái này gọi là “ đắc đạo ”, mất cái này gọi là “ thất đạo ”. Người đời kinh sách đầy bụng, chẳng biết tiêu hoá, chạy nơi này nơi nọ, hôm nay chỗ nào linh thì đến chỗ ấy, ngày mai chỗ nào ổn thì đến chỗ ấy, chui qua lách lại, tro bụi đầy mặt, ha ha!




Sách viết: Ông Minh Tánh hỏi: Ðời nay, tăng nhơn xưng mình là đại hòa thượng, có đắc đạo chăng?


Ðáp: Kẻ kia miệng xưng đại hòa thượng, truyền phép trên giấy, truyền câu chữ phàm, là giả danh, cũng như ca nhi ở trên sân khấu làm vua, tôi, cha, con, chớ nguyên là con hát vậy..... Hễ tu luyện thì phải có lời truyền khẩu quyết của minh sư mới rõ đặng sự huyền diệu.... Những kẻ ấy không rõ đặng đạo lý, biết đâu mà dạy người khác đặng…

Người đời nếu tưởng rằng niệm kinh thì có thể thành đạo, thử hỏi đức Như Lai, Khổng Tử, Lão Quân niệm kinh điển gì mà thành?

Đan Kinh rằng : “Dù bạn thông minh hơn Nhan Hồi, chẳng gặp Minh Sư chớ đoán mò, đọc thuộc cả ngàn kinh vạn điển, chẳng bằng một điểm của Minh Sư”, lại rằng: “ Đọc sách vạn quyển một khiếu chẳng thông, bụng đầy văn chương chẳng rõ sanh tử”. Đó là bất nhị pháp môn (pháp môn có một không hai) nói trong kinh Duy Ma Cật, là vô tự chơn kinh (kinh không có chữ), cũng là chánh pháp nhãn tạng đức Thế Tôn đã được Nhiên Đăng Cổ Phật truyền cho (còn gọi là thọ ký cho). Chánh pháp nhãn tàng là pháp môn không hai để thành Phật, tức là “bái Minh Sư cầu đạo”, tiếp nhận “Pháp Hoa thọ kí” của Phật, đó mới là “Như Lai chơn thật nghĩa", là một chỉ của Minh Sư (còn gọi là chỉ nguyệt, chỉ trăng, chỉ điểm, truyền hay điểm đạo, hay một chỉ tay của Minh Sư).




Ngày nay cũng như trong quá khứ, các giáo lý và thực hành Mật tông cao nhất chỉ được khẩu truyền và được giữ bí mật tuyệt đối giữa vị thầy và đệ tử. Do năng lực siêu phàm của những giáo lý này, cần phải xác nhận rằng đệ tử phải được chuẩn bị kỹ lưỡng để thọ nhận chúng. Một vị thầy đích thực thường sẽ kiểm tra đệ tử của mình trong 6 đến 12 năm hoặc lâu hơn nữa trước khi trao truyền những giáo lý cao cấp hơn.

Tóm lại, nếu bạn có tâm thành tất có ứng, bạn có thể tìm được Thiên mệnh chơn sư điểm đạo cho mình. Cũng không có nghïa tụng kinh trì giới là không cần, nhưng đó là tu phước, không thể thoát ly sanh tử luân hồi. Nếu được vãng sanh cũng chỉ về trung giới, sau khi hưởng hết phước vẫn bị tái sanh trở lại (làm người hay làm súc sanh vẫn chưa biết). Hiểu rõ ràng như vậy để bạn chọn hướng đi thích hợp nhất cho mình, không bị ngoại cảnh làm cho khó phân biệt giả chơn.


Trong Thời Kỳ Mạt Pháp, giáo phái rất nhiều, chỉ cần quy y tu hành là được, cần gì phải cầu Đạo?



Trong thời kỳ mạt kiếp, vạn giáo tề pháp, có đến 3600 tả đạo. 72 loại bàng môn, 96 loại ngoại đan pháp, mỗi một môn phái đều tự cho rằng có Minh Sư, có Thiên Mệnh, quả thật là bể Đạo mênh mông, chân giả khó phân. Nếu không có căn cơ thâm hậu, tổ ơn cao dày thì khó gặp chân Đạo mà uổng công tu hành. Giáo phái tuy nhiều nhưng không ngoài Thuật, Lưu, Động, Tĩnh, gọi tắt là: tứ quả bàng môn ( bàng là bên cạnh, môn là cửa, có nghĩa là cửa hông mà không phải là cửa chánh ).


+ Thuật: là pháp thuật, như vẽ bùa niệm chú, gọi gió cầu mưa, cỡi mây độn thổ, rắc đậu thành binh...

+ Lưu: Vân du thiên hạ, nay đây mai đó, thay người xem thiên văn địa lý, chiêm bốc coi tướng, chữa bệnh..

+ Động: Hái thuốc luyện đơn, luyện tập quyền cước cho thân vững chắc, có sức mạnh ngàn cân, đao thương bất nhập...

+ Tĩnh: Ngồi thiền quán tâm, lấy càn khôn làm đỉnh lư, can phế làm long hổ, dùng phương pháp thổ nạp vận châu thiên…



Thơ viết:




Đạo pháp ba ngàn sáu trăm môn
mỗi người nắm giữ một diệu căn,
Duy có một điểm huyền quan khiếu,
chẳng ở ba ngàn sáu trăm môn.


Đạo là đốn pháp thượng thừa, ở ngoài 3600 pháp môn. Do Đạo của Thượng Đế phi thời bất giáng, phi nhân bất truyền. Nay đương thời phổ độ, Minh Sư ứng vận truyền Đạo, nếu cố chấp lấy kỷ kiến, một khi thời vận qua rồi, thuyền đã rời bến, chẳng tiếc lắm sao!!!



Chân kinh chẳng ở trên giấy, nếu như có thể viết chân kinh ở trên giấy, vậy thì không gọi là chân kinh, gọi là kinh có chữ. Vô Tự Chân Kinh chẳng phải là có thể viết trên giấy, và tam bảo của trên báo xuất bản vốn chẳng có sự ấn chứng của thiên mệnh. Nếu như trong số các con có người biết tam bảo mà huyền quan chưa mở, vậy thì vẫn là chưa được cứu cánh rốt ráo.



Giảng Kinh thuyết Pháp là tu Huệ. Ngồi Thiền là tu Ðịnh. Không nói lời tạp nhạp là tu Giới.

Lễ Phật tức là lễ tự tánh Phật, lễ bái vị Phật trong tự tánh của mình.

Lục Tổ trong bài vô tướng tụng bảo rằng :

Mê nhơn tu phước bất tu đạo,
Chỉ ngôn tu phước tiện thị đạo,
Bố thí cúng dường phước vô biên,
Tâm trung tam ác nguyên lai tạo,
Nghĩ tương tu phước dục diệt tội,
Hậu thế đắc phước tội hườn tại.
Ðản hướng tâm trung trừ tội duyên;
Các tự tánh trung chơn sám hối.
Hốt ngộ đại thừa chơn sám hối,
Trừ tà hành chánh tức vô tội.




Dịch nghĩa:




Kẻ mê tu phước chẳng tu đạo,
Chỉ cho tu phước tức là đạo.
Bố thí cúng dường phước vô biên,
Trong tâm tam ác vẫn còn tạo.
Muốn dùng tu phước để diệt tội,
Kiếp sau được phước, tội vẫn còn.
Nhân duyên tội ác trừ nơi tâm,
Hướng vào tự tánh chơn sám hối.
Hoát ngộ đại thừa chơn sám hối,
Tà dứt hạnh chánh tức vô tội.





Phàm phu thường là:




Ân ái vợ con không nỡ rời.
Thói hư tật xấu không nỡ sửa.
Công danh phú quý không nỡ buông.
Vàng bạc tiền tài không nỡ xài.
Không nỡ rời chính là gánh nặng.

Có người tu hành lâu năm nghe qua đã phán rằng "trên đời này làm gì có chuyện giáng điển, hay làm gì có chuyện chơn thần đi được lên trời". Lời nói của một nhà tu mà nói chuyện giống như một kẻ vô thần. Nên nhớ rằng trên đời này có rất nhiều chuyện không thể biết hết được, những chuyện mình không biết thì rất nhiều, nhưng mình vô minh không biết cũng không có nghĩa là không có. Khi một người khoác áo nhà tu vào mình cũng không có nghĩa sẽ biết hết tất cả, đặc biệt nếu họ chưa từng nghe thấy qua, hoặc chưa từng tự mình chứng đắc thì cũng như ếch ngồi đáy giếng không biết trời cao đất rộng là gì, chẳng khác nào người mù xem voi chỉ biết đạo ở khía cạnh mình đã được sờ vào con voi mà thôi, chẳng biết hết được bộ mặt thật con voi ra sao, nếu chẳng may diễn nói đạo theo ý riêng "sờ voi" của mình thì thật đáng thương thay cho một thế hệ nghe theo người mù sờ đạo.




Thánh Nhân cầu tâm chẳng cầu Phật
Kẻ ngu cầu Phật chẳng cầu Tâm
Thượng đẳng tu hành ngộ giác tánh
Trung đẳng tu hành chấp văn tự
Hạ đẳng tu hành trọng hiển hóa.



---




MẬT TÔNG LÀ GÌ?

Hỏi: Mật Tông là gì?

Đáp: Mật Tông là một tông phái của Đạo Phật dùng các “MẬT NGỮ” của chư Phật làm phương tiện tu hành.

Hỏi: MẬT NGỮ là gì?

Đáp: Mật ngữ có nghĩa là “lời nói kín”. Mật ngữ còn gọi là “Chân ngôn” (lời nói chân thật). Mật ngữ còn gọi là “Chú”, đây là tiếng thông thường người đời hay dùng nhất.

Chú cũng có nghĩa là lời nói bí mật.

Hỏi: Tại sao nói là bí mật?

Đáp:

 - Bí mật vì nó không được giải nghĩa.
 - Bí mật vì chỉ có chư Phật mới hiểu trọn vẹn.
 - Bí mật vì tùy trình độ, căn cơ và sự ứng dụng mà mỗi người một khác, đạt một kết quả khác.
 - Bí mật vì nó chỉ được thông đạt qua Tâm truyền Tâm, giữa thầy trò, giữa chư Phật (hoặc người nói ra chân ngôn) với hành giả. Điều này chỉ người nào tu Mật rồi mới chứng nghiệm được).
 - Bí mật vì kết quả đạt được tùy Tâm hành giả.

Hỏi: Tại sao lại dùng “Chú” làm phương tiện tu hành?

Đáp: Tu theo đạo Phật có rất nhiều cách để đi tới “cứu cánh giải thoát”, có người niệm Phật, có người tụng kinh, có người ngồi Thiền, vậy thì dùng “Chú” cũng chỉ là mượn xe đi đến đích mà thôi.

Hỏi: Tại sao lại chọn “Chú” mà không dùng các cách niệm Phật, tụng kinh?

Đáp: Trong một cuộc hành trình muốn đi tới một điểm nào đó, người ta thường thích chọn xe nào đi cho nhanh và thỏai mái. Vậy thì việc chọn “Chú” mà không dùng các phương tiện khác là như thế.

Hỏi: Tại sao lại nói dùng “Chú” là phương tiện đi nhanh?

Đáp: Vì dùng “Chú” thì ngoài “tự lực” của mình còn nhờ “tha lực”, giống như đi thuyền biết trương buồm nên nhờ được gió đẩy mà đi nhanh hơn.

Hỏi: Thế nào là “tự lực” và “tha lực”?

Đáp: “Tự lực” là dựa vào sức của chính mình mà thành việc. “Tha lực” là nhờ vào sức khác ở ngoài mình trợ giúp. Người tu Mật Tông nói đến tha lực là nói đến sức hỗ trợ vô hình từ các cõi xuất thế gian đưa đến.

Hỏi: Tại sao lại phải nhờ vào tha lực?

Đáp: Bởi vì sức người có hạn mà sức ngoài thì vô hạn, nếu ta biết nương vào sức đó thì sẽ giúp ta sớm đạt kết quả.

Hỏi: Nhờ đâu ta có tha lực hỗ trợ?

Đáp: Nhờ ở chân ngôn tức “Chú”.

Hỏi: Căn cứ vào đâu mà nói “Chú” có tha lực giúp ta mau thành tựu?

Đáp: Điều này thuộc về bí mật, mà chỉ có thể chứng minh được bằng:

- Đức tin của mình,
- Sự chứng nghiệm, và
- Cảm nhận.
- Kết quả chỉ được chứng minh khi đã hành trì.

Hỏi: “Chú” do đâu mà có?

Đáp: “Chú” do TÂM Phật mà có. “Chú” do lòng thương xót chúng sinh mà có. Chư Phật, chư Bồ tát hoặc các vị khác khởi từ tâm chân thật, từ lòng thương xót chúng sinh mà nói ra “Chú” để cứu độ. Vì “Chú” phát xuất từ TÂM CHÂN THẬT nên mới gọi là “Chân ngôn”.

Hỏi: Đọc “Chú” có lợi ích gì?

Đáp: Vì “Chú” xuất phát từ chỗ vô hạn là Tâm Phật nên lợi ích của nó cũng vô cùng, không thể kể hết. Tuy nhiên, đối với người tu thì lợi ích đứng đắn và thiết thực nhất là: “Chú” giúp ta được tìm cầu giải thoát mau chóng và giúp người khác cùng tiến với ta. Còn các lợi ích khác như có thần thông, trừ tà ma, chữa bệnh chỉ là phụ, không nên nhìn “Chú” bằng con mắt hạn hẹp đó.

Hỏi: Những ai đọc “Chú” được?

Đáp: “Chú” là phương tiện của Phật cho mượn nên ai mà chẳng có quyền đọc. Tuy nhiên khi ta mượn một cái xe thì điều cần thiết là ta có biết sử dụng nó hay không. Nếu không thì xe sẽ trở thành một trở ngại, một khó khăn cho ta, làm cho ta dừng lại với xe mà không tiến được trên đường Đạo. Bởi vậy, những người biết lái xe, hiểu bệnh của xe, phải là những người được huấn luyện chuyên môn. Do đó đọc “Chú” thì ai cũng có thể đọc được, nhưng có kết quả hay không, nhiều hay ít, đó mới là vấn đề, ấy là chưa nói đến cái hại có thể đến nữa.

Nói thế không hẳn là chỉ những người tu chân ngôn mới được đọc “Chú” mà bất cứ ai nếu với tâm thành thật, hướng đến sự tốt lành cho mình, cho người, vẫn có thể dùng “Chú” mà vẫn thấy linh nghiệm.

Hỏi: Đọc “Chú” đòi hỏi những điều kiện gì?

Đáp: Đương nhiên là cần một số điều kiện. Thông thường ta phải có:

- Sự tin tưởng vững chắc vào “Chú”,
- Lòng thành khẩn khi đọc,
- Hướng về làm lợi ích cho tha nhân hay các chúng sanh.

PHẬT - PHÁP - TĂNG CHÍNH LÀ GIÁC - CHÁNH - TỊNH

TAM BẢO: PHẬT - PHÁP - TĂNG CHÍNH LÀ GIÁC - CHÁNH - TỊNH


Thánh Nhân cầu tâm chẳng cầu Phật
Kẻ ngu cầu Phật chẳng cầu Tâm
Thượng đẳng tu hành ngộ giác tánh
Trung đẳng tu hành chấp văn tự
Hạ đẳng tu hành trọng hiển hóa.

 
Lục Tổ nói: “Phật là giác vậy, pháp là chánh vậy, tăng là tịnh vậy”, cho nên Ngài dạy người quy y giác, quy y chánh, quy y tịnh. Giác, Chánh, Tịnh là tam bảo chân thật. Phật-Pháp-Tăng chính là Giác-Chánh-Tịnh. Thế nhưng, người hiện nay nhận thức Phật-Pháp-Tăng, không biết nội hàm của Phật-Pháp-Tăng là Giác-Chánh-Tịnh. Nhắc đến Phật liền nghĩ đến tượng Phật, nhắc đến pháp liền nghĩ đến kinh điển, nhắc đến tăng liền nghĩ đến người xuất gia, nghĩ vậy sai rồi! Thế là không đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp.
 
Trụ trì tam bảo đối với sự hoằng truyền, tu học Phật pháp là vô cùng quan trọng, không thể thiếu. Bạn có thực chất mà không có hình tượng thì thực chất cũng tan vỡ. Phật Bồ-tát chỉ dạy chúng ta, nhìn thấy tượng Phật phải nghĩ đến giác ngộ, “giác chứ không mê”, ý nghĩa chân thật của cúng dường tượng Phật là ở chỗ này. Nhìn thấy kinh điển, không chỉ là kinh điển, mà chỉ cần nhìn thấy quyển sách, nhìn thấy văn tự thì tức khắc liền có thể nghĩ đến “chánh chứ không tà”. Đây là thật sự quy y pháp, thật sự bạn thấy Phật, thấy pháp rồi. Nhìn thấy người xuất gia liền nghĩ đến sáu căn thanh tịnh, không nhiễm mảy bụi, đây là bạn thật sự kính tăng. Thấy Phật, nghe pháp, kính tăng là phải giảng như vậy.
 
Vì vậy, hình tượng tam bảo này từng giây từng phút đang nhắc nhở chúng ta, không có hình tượng này chúng ta vô cùng dễ quên. Chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay tùy thuận tập khí phiền não, tự nhiên liền bị phiền não kéo đi. Cho nên, chúng ta phải hiểu tại sao chúng ta phải cúng dường tam bảo, mục đích là từng giây từng phút nhắc nhở mình. Đây chính là ân huệ lớn nhất mà tam bảo trên hình tượng đã cho chúng ta, nếu không thì lấy gì để nhắc nhở chúng ta? “Giác chứ không mê”, cách giác như thế nào? “Chánh chứ không tà”, cách chánh như thế nào? “Tịnh chứ không nhiễm”, cách tịnh như thế nào? Những đạo lý lớn này đều ở trong kinh điển. Cho nên Phật giáo giới chúng ta là phải “thọ trì đọc tụng, vì người diễn nói”. Đọc tụng là then chốt, thường xuyên đọc tụng, thường xuyên vì người diễn nói (diễn là làm được).

CỤC ĐÁ CHƯỚNG NGẠI TU ĐẠO

- Tôi nghèo khổ không tiền không thể tu
- Tôi giàu có nhiều tiền không thể tu
- Tôi trẻ khỏe sung sức không thể tu
- Tôi già yếu bệnh hoạn không thể tu
- Tôi có con cháu để lo không thể tu
- Tôi không con cháu không thể tu
- Tôi đang sống tốt không thể tu
- Tôi đang sống khổ không thể tu
- Tôi không thể ăn chay không thể tu
- Tôi phải đi làm không thể tu
- Tôi không có việc làm không thể tu
- Tôi phải phụng dưỡng cha mẹ không thể tu
- Tôi chưa có gia đình không thể tu
- Tôi đang có gia đình vợ chồng con cái không thể tu
- Tôi chưa có con không thể tu
- Tôi có con phải coi cháu không thể tu
- Tôi chưa giải quyết hết mọi chuyện không thể tu
- Tôi là người bình thường, nghiệp chướng nặng nề không thể nào có khả năng tu được
- v.v. và v.v..
 
Đó là một trong những trăm ngàn lý do bất tận (kể ra không bao giờ hết) được nghe nhiều nhất vì sao bạn không thể tu, bạn đang tự đặt một cục đá to tổ bố trước mặt mình và nói rằng bạn không thể đi được về phía trước. Cục đá to nặng do bạn đem để trước mặt mình để chúng quyết định việc sanh tử luân hồi cho bản thân.
 
Tông chỉ của Phật giáo là ai cũng có thể thành Phật.
 
Sinh tử nguy hiểm như vậy mà mình còn dám lười biếng sao! Lại còn ra vẻ như chẳng có chuyện gì, tựa như rằng mình có định lực ghê lắm. Chẳng phải đó là lãng phí thời gian sao?
 
Khi ở trong vòng sinh tử, mình muốn thoát sinh tử thì phải bỏ ra chút sức lực. Chẳng dễ dàng thoát sinh tử đâu. Dùng sức lực nghĩa là sao? Tức là làm bất kỳ chuyện gì mình phải chân thật làm nó. Nếu bạn thật sự không nói dối trá thì bạn gọi trời, trời liền đáp; bạn gọi đất, đất trả lời.
 
Nếu như bạn chẳng tu hành thì dù đức Thích Ca Mâu Ni Phật có làm Sư phụ của bạn thì cũng chẳng có ích lợi gì.
 
Thiếu nhẫn nại thì pháp gì tu cũng không thành. Không có lòng nhẫn nại thì thường cảm thấy việc này không đúng, chuyện kia không tốt. Việc gì cũng trái ý mình. vậy thì bạn có thể tu gì được?
 
Vì sao bạn khởi phiền não? Bởi vì lòng tham lam của bạn chưa ngừng. Ðừng để danh lợi làm đầu óc mê muội. Tới chết thì vẫn hai tay trắng. Rằng: Ðừng để tuổi già mới học đạo, mồ hoang có lắm kẻ xuân xanh.
 
Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ hưởng thụ là năm cái gốc của địa ngục. Song le chúng ta ai ai cũng chôn cái gốc ấy sâu trong lòng. Gốc lành thì mình chẳng trồng nó cho sâu trong khi lại trồng thật sâu năm thứ dục vọng. A! Nghĩ rằng nó chưa đủ sâu, mình cứ tiếp tục chôn nó sâu thêm!
 
Con người mình ai cũng bỏ gốc theo ngọn: Ðem việc tu hành sắp tại hạng nhì, còn việc kiếm tiền thì nâng lên hạng nhất, quên mất đạo lý căn bản làm người, chỉ dụng công nơi cái ngọn. Lo làm ăn kiếm tiền thì chỉ duy trì sinh hoạt cuộc sống. Còn học tập Phật pháp thì nuôi dưỡng pháp thân huệ mạng, tăng trưởng trí huệ của mình. Mình nên chọn một bộ kinh thích hợp với mình nhất để học hỏi, chớ nên ngày ngày chỉ chuyên tâm làm tiền.
 
Ở đời này, kẻ muốn cái giả thì vất bỏ cái thật đi. Bạn muốn tìm cái thật thì phải buông bỏ cái giả. Chẳng thể muốn tu pháp xuất thế mà chẳng buông bỏ pháp thế gian.
 
Lúc tu hành, bạn đừng sợ khó, đừng sợ khổ, đừng sợ chẳng có tiền, cũng đừng sợ không có cơm ăn, sợ tuổi già bệnh hoạn. Nếu có lòng sợ hãi thì bạn chẳng thể tu hành đặng. Người tu đạo thì tương phản với kẻ thế tục: Người đời cầu ngũ dục (tiền tài, sắc dục, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ hưởng thụ), chẳng thể nào buông bỏ chúng.
 
Học Phật Pháp thì cần phải dùng trí huệ chứ không thể dùng tình cảm. Dùng trí huệ để học Phật Pháp thì đó là Chánh Pháp. Dùng tình cảm mà học Phật Pháp thì đó là Mạt Pháp.
 
Trong tự tánh quang minh của mình, chẳng hề có chút tham lam. Mà trong sự linh cảm, trong trí huệ cũng không hề tồn tại mảy may tham lam. Do đó khi mình nổi lòng tham thì cũng như nơi mặt gương bổng hiện lên một lớp bụi. Vì vậy chúng ta những kẻ dụng công tu hành phải luôn ghi nhớ: Chớ tham nhiều, chớ tham mau, chớ tham tiện nghi, dễ chịu.
 
Bây giờ mình đắc được thân người, nếu không mượn nó để tu hành thì mình chờ tới lúc nào? Chờ tới lúc thân này mất rồi, lúc ấy muốn tu thì đã quá trễ.
 
Sự thật thì pháp cao sâu vô thượng cách bạn quá xa, mà bước đầu tiên bạn chưa bước gì cả. Vì sao mình phải bỏ cái gần, chạy theo cái xa xôi? Vì sao bỏ gốc, theo ngọn? Tại sao mình không dụng công tu hành ở nơi chỗ gần kề nơi thân, chỗ mình sinh hoạt hàng ngày. Vì sao cứ chạy theo truy tìm thứ quá xa xăm diệu vợi?
 
Người xưa nói: Ðạo ở cạnh bên nhưng cứ cầu ngoài xa; việc vốn dễ nhưng cứ tìm cái khó.
 
Ðạo quý tại tâm chuyên nhất. Cũng như dụng binh quý ở tinh luyện, không phải ở số đông. Mỗi cử chỉ hành vi của mình không được rời xa tự tánh.
 
Kỳ thật vạn sự vạn vật đều thuyết pháp. Cái bàn nói cái pháp của cái bàn. Cái ghế nói pháp của cái ghế. Việc gì chuyện gì cũng chuyển pháp luân. Người chuyển pháp luân của người. Con mèo chuyển pháp luân của con mèo. Nếu bạn hiểu rõ, thì bạn sẽ nghe được cái pháp hiểu rõ. Nếu bạn không hiểu rõ thì bạn chỉ nghe cái pháp ngu si.
 
Người học Phật chớ nên hễ nghe người ta khen là vui vẻ cao hứng lắm. Nghe một câu không vừa ý thì phiền não vô cùng. Ðó là biểu hiện chẳng có định lực. Có định lực thì bạn không bị cảnh giới của tám gió làm lay chuyển.

Bạn nên thâm nhập tu trì một pháp môn: Người tọa thiền thì phải chuyên tâm trì chí học thiền tông. Người học giáo thì phải chuyên tâm trì chí học Giáo tông. Người học luật thì phải chuyên môn học Luật tông. Người tu trì chú thì phải chuyên tâm học Mật tông. Người tu niệm phật thì cũng phải chuyên tâm niệm Phật. Khi niệm tới chỗ nhất tâm không tạp loạn thì tuyệt đối bạn sẽ vãng sinh thế giới Cực Lạc. Bạn chớ nên vừa học thiền, lại muốn học giáo, lại muốn học luật, lại muốn học mật, lại muốn học tịnh. Khi bạn tham nhiều món thì khó mà nhai cho kỹ. Mình phải chuyên nhất tâm chí, dụng công tu hành thì mới thành tựu. Giống như bạn chỉ có một cái miệng, ngậm đầy mồm thức ăn, thì không làm sao nhai cho nát được. Miệng quá đầy, muốn ăn cơm cũng nuốt không vô. Học Phật cũng vậy: Bạn phải từ từ từng bước từng bước tuần tự, chầm chậm tiến lên. Ðừng ham mau ham lẹ. Rằng: Dục tốc, bất đạt - Muốn mau thì chẳng tới nơi.
 
Sau đây là Sáu cái đừng:
 
Khi ngồi đừng đu đưa chân, rung đầu gối.
Khi đứng, đừng rung quần.
Khi đi đừng ngoái đầu.
Khi nói đừng lộ lưỡi.
Khi cười đừng cười lớn tiếng.
Khi nóng giận đừng la hét.
 
Phải tập: Suy nghĩ chín chắn rồi hãy nói, lòng vui rồi mới cười, thấy việc ấy có nghĩa mới làm.
 

Thursday, June 28, 2018

Làm thế nào để khắc phục chướng ngại của việc tu đạo?

I. Lời nói đầu

* Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo

“Ngọc bất trác bất thành khí”: có nghĩa là viên ngọc, đá quý... nếu không được mài giũa, đẽo gọt thì không thể làm cho nó thể hiện được vẻ đẹp và giá trị của nó. Từ một viên đá quý, một viên ngọc lấy trong tự nhiên nếu không có bàn tay gọt đẽo, mài giũa của con người thì không thành những sản phẩm trang sức đẹp, quý giá được.

- “Nhân bất học bất tri lí”: có nghĩa là nếu con người không được học hành đầy đủ (học cả ở trường lớp và trường đời) thì không biết đến những lí luận, đạo lí... về mọi sự vật hiện tượng được.

Tu đạo là đi sâu vào nghiên cứu chân lý, hiểu rõ nhân quả, triệt ngộ tự tánh, sau đó dựa theo thiên tánh mà hành đạo. Giữa quá trình này, không trải qua khảo nghiệm mài luyện, không trải qua việc người trời giao chiến thì đạo quả khó thành.

 * Phí tận tâm sức vất vả suy nghĩ, trải qua khốn khổ mài luyện thân tâm, bất chấp những lực cản bên ngoài, tiếp tục kiên trì gánh vác trách nhiệm lớn.

Mạnh Tử rằng : “ trời sắp đem sứ mệnh trọng đại giáng xuống thân một người nào đó thì trước hết nhất định phải khiến cho ý chí của anh ta chịu sự mài luyện, khiến cho gân cốt của anh ta bị mệt lử, khiến cho cơ thể anh ta nhịn chịu cơn đói, khiến cho anh ta có rất nhiều nỗi khổ khốn cùng, làm việc cứ là chẳng thuận lợi, như thế để chấn động tâm chí của anh ta, khiến cho tánh tình của anh ta bền bỉ ngoan cường, làm tăng trưởng tài năng mà anh ta còn thiếu sót. ” ( 孟子云:天將大任於斯人也,必先苦其心志,勞其筋骨,餓其體膚,空乏其身,行拂亂其所為,所以動心忍性,增益其所不能。)

II. Vì sao tu đạo sẽ có chướng ngại ?

* Đời người tại thế bị khí bẩm kiềm chế, vật dục che lấp

Chúng sanh vì sao có sanh tử ? do ái dục mà sanh, cũng do ái dục mà tử. Người đời bị ái dục kiềm chế che lấp, ngày ngày trong sự sống mà tìm cái chết, ít có người trong cái chết cầu sự sống.

* Nhân quả nghiệp lực lũy kiếp lôi kéo

Hoạt Phật Sư Tôn nói rằng : túc mệnh chính là nghiệp lực. Những tư tưởng của chúng sanh từ sinh đến tử, từ lũy kiếp đến nay, lại cộng thêm sự tổng kết hợp của hành vi gọi là nghiệp lực. Phật cũng chẳng thể chuyển định nghiệp ( nghiệp lực trọng đại khó mà tiêu trừ, là nghiệp mà nhất định sẽ thọ báo. Định nghiệp thiện thì nhất định được quả vui, định nghiệp ác thì nhất định chịu quả khổ  ), nhưng nguyện lực từ bi hỷ xả có thể lớn hơn nghiệp lực.

* Cá tính thiên chấp, nhân sự chẳng viên dung ( thiên chấp : những kiến giải đối với sự vật quá ư lệch lạc và cố chấp ý kiến của bản thân. )

Sư Tôn nói rằng : Một người chẳng hợp với bản thân, chẳng hợp với người khác ( chẳng cách nào cư xử hòa hợp với người khác ) , chẳng hợp với hoàn cảnh môi trường thì là trong tâm có ma. Do vậy, tu đạo tu tâm, nhất định cần phải bắt tay vào từ chỗ sửa bỏ thói hư tật xấu, tánh nóng nảy.

III. Những chướng ngại của tu đạo có thể gồm có những gì ?

* Về mặt thân thể :

Tác nhân gây bệnh có hai : một là ăn uống không có tiết chế, sinh hoạt ngày thường không điều độ, nếu là cảm thấy không khỏe thì phải tìm bác sĩ; một là do sự huân tập những thói xấu không tốt đã triêm nhiễm trong quá khứ, túc nghiệp lôi kéo, nếu muốn giải thoát thì phải dựa vào việc tu đạo. Đừng có trộn lẫn việc tu đạo và việc sinh bệnh vào với nhau, chớ có do ma bệnh đeo bám quấy rầy mà lỡ mất hành trình đạo. Tiền Hiền nói rằng : trong bệnh ngộ chân cơ. Hãy xem đau bệnh là phương thuốc tốt phản tỉnh tiến tu. Hoạt Phật Sư Tôn nói rằng : người tu đạo mang ba phần đau bệnh, có thể tiêu oán giải nghiệt, giác ngộ đời người.

* Về mặt sự nghiệp :

Sự nghiệp thuận nghịch, hoặc do thời vận, hoặc do phước báo, vốn không thể trộn lẫn với việc tu đạo mà bàn. Thầy Tế Công Hoạt Phật nói rằng những người vào cửa của thầy thì sẽ không nghèo, ra khỏi cửa của thầy chẳng giàu; khi sự nghiệp không được thuận lợi thì nên dùng lòng kiên nhẫn, sự nhẫn nại bền chí để khắc phục nghịch cảnh; nên biết rằng phàm nghiệp phải chăm lo, thánh nghiệp đạo nghiệp cũng phải khai sang.

* Về mặt gia đình

 Nuôi dưỡng song thân dễ, làm thuận vừa lòng song thân khó; sinh con dễ, dạy con khó. Cái đạo hạnh phúc của phụ từ tử hiếu ( phụ thân từ ái, con cái hiếu thuận ), huynh hữu đệ cung ( tình cảm giữa anh em với nhau hòa hợp, có thể thương yêu tôn kính nhau ) quý ở chỗ đồng tâm mà thôi, cho nên gia đình hòa hợp thì có thể hưng thịnh. Tề gia tu đạo mới có thể tâm đồng khí hòa, hưởng thụ niềm vui gia đình.

* Về mặt tình cảm

Tình cảm là động lực của sinh mệnh, quá nặng tình thì lại dễ trầm mê thân tâm, tự làm chướng ngại bản thân, có cái gọi là hữu ái vô trí ( có tình yêu thương mà không có trí tuệ, tình yêu ấy là mù quáng ).

 Sư Tôn nói rằng : chúng sanh trọng cảm tính, nhiều phiền não. Phải đem cảm tính chuyển hóa thành lý tính, lý tính chuyển hóa thành trí tính, trí tính chuyển hóa thành không tính thì có thể thường, lạc, ngã, tịnh rồi ( Thường là không thay đổi, không sinh diệt. Lạc là không yêu ghét, một niềm vui siêu thế. Ngã là tự do tự tại. Tịnh là trong sạch, không bị ô nhiễm, dù là sống giữa đời thế tục ).

* Về mặt đạo trường

Đạo trường là nơi lấy đạo làm nhà, cái chú trọng là đạo tình, tuyệt đối không phải là tu cái đạo nhân tình ( tình người ); dựa vào nhân tình khởi tu thì dễ chiêu ma chiêu khảo ( chuốc lấy ma khảo ) . Đạo trường là nơi tu hành lấy phật quy lễ tiết làm hành trì ( ứng dụng ), cái chú trọng là quy củ, tuyệt đối không được tùy tiện ngã mạn; ngã tướng quá nặng nhất định sẽ tự khảo khảo người.

* Về mặt đạo lý

Nhận lý chẳng rõ, tu luyện mù mờ, lãng phí tinh thần sức lực mà không có hiệu quả. Thầy bảo rằng : lý chẳng rõ, làm sao tu đạo ? tu đạo quý ở chỗ giác, ở chỗ ngộ, lấy chân lý làm thầy, lấy lương tâm làm thầy; là đạo thì tiến, chẳng phải đạo thì lui. Mạnh Tử nói rằng : “ 盡信書,不如無書 ” ( tin tưởng hoàn toàn vào “ Thượng Thư ”, chi bằng không có “ Thượng Thư ” ), nghĩa là đọc sách không thể câu nệ những gì ghi chép trên sách hoặc mê tín sách mà tin làm theo một cách mù quáng. Do vậy người học đạo không thể chấp chước ở văn tự tướng mà sanh tri thức chướng.

IV. Làm thế nào khắc phục chướng ngại của việc tu đạo?

* Tâm cảm ân, tâm hoan hỷ

Khắc giả tận tuyệt, phục giả thuận toại. Có thể triệt tiêu hết mọi chướng ngại thì tu đạo mới có thể xuôi thuận. Chướng ngại của tu đạo là do sự hiểu biết và tu trì của con người đối với đạo khác nhau. Có người xem chướng ngại là phương tiện bàn đạp của sự tinh tiến, có người sợ chướng ngại là khối đá gây trở ngại cho sự tiến về phía trước. Điều quan trọng là ở cá nhân mỗi người tự tịnh thân tâm thì mới có thể chuyển hóa được. Tâm muốn tịnh thì chỉ có thường gìn giữ tâm cảm ân, tâm hoan hỷ.

* Dùng lòng tin để đột phá

 Đức tu báng hưng ( Những người mà có thanh danh phẩm đức tu dưỡng càng tốt thì càng dễ thu hút sự bôi nhọ nói xấu và hủy báng của những người mà trong lòng bất bình không phục ), nếu chẳng có ma khảo thì không thể thành đạo; đạo cao thì hủy đến ( sự cao quý của đạo một khi hiển hiện thì những lời nói hủy báng đố kị bèn đến ), nếu chẳng có sự hủy báng thì không thể hưng đức. Xưa nay người tu đạo đều trải qua thiên ma vạn khảo mới có thể thành đạo, cái mà dựa vào chính là lòng tin.

* Dùng trí tuệ để phân biện rõ ràng đạo lý

Đạo là cái tôn quý nhất mà vĩnh hằng, tu chân đạo nhất định có chân khảo, thường nghe nói rằng : muốn hiển quý trước người khác thì nhất định phải nhẫn chịu đau khổ ở đằng sau người. Người tu đạo càng phải rõ thấu cái lý này. Lục Tổ rằng : Phiền não ám trạch trung, thường tu sanh huệ nhựt ( nhà phiền não đen tối, thường nên sanh huệ nhật ); tu đạo nên biết quay ngược lại đòi hỏi bản thân thì tâm trí tuệ viên minh thường chiếu.

V. Kết luận

•Chuyển thức thành trí, chuyển phiền não thành bồ đề, chuyển sanh tử thành niết bàn
•Vĩnh Gia Đại Sư rằng : 觀惡言是功德,此即成吾善知識;不因訕謗起冤親,何表無生慈忍力?

Quán ác ngôn, thị công đức,  Thử tắc thành ngô thiện tri thức.

Bất nhân san báng khởi oán thân,   Hà biểu vô sanh từ nhẫn lực.

Dịch:

Xét lời ác ấy là công đức, Ðó mới chính là thầy ta thực.

Chớ vì báng bổ khởi oán, thân; tỏ vô sanh, nêu nhẫn lực.

Quán ác ngôn: Quán, là quán sát, là nhìn nghe, cũng cùng nghĩa như chữ thính là nghe, nhưng tại sao ở đây không dùng chữ "thính" - thính ác ngôn? Mà lại nói là quán ác ngôn? Quán là hồi quang phản chiếu, quay ngược lại mà quán tự tánh. Câu "phản cầu chư kỷ," cũng cùng nghĩa như công phu hồi quang phản chiếu.

Gặp người nói với ta bằng ác ngôn, ta nên hồi quang phản chiếu, lấy diệu quan sát trí để quán sát. Quán sát như vậy chính là diệu quán, là cách phân tích. Khi chứng được thánh quả thì sẽ có bốn trí. Khi chưa chứng, thì bốn trí đó có chăng? Cũng có, nhưng có sơ sơ, chưa đến chỗ rốt ráo. Ai cũng đều có một chút diệu quan sát trí, cũng biết quán, cũng có quán lực, và khi quán rồi thì sát, sát cái gì? Quán cái gì? Tức là quán sát ác ngôn.

Có bốn thứ ác, thuộc về lời nói: Nói thêu dệt, nói dối, ác khẩu, nói lưỡi hai chiều. Ác ngôn chính là ác khẩu, tức là buông ra những lời vô lễ, không hợp lý, vô cớ gây sự.

Thị công đức: Chúng ta nên nghĩ rằng những lời đó chính là các chất béo, các sinh tố, các chất bổ dưỡng, rất tốt cho cơ thể chúng ta. Chúng ta đương thiếu chất sinh tố, nay có người mắng ta, chính là họ cho ta sinh tố; ta vốn chẳng có công đức gì, nay được nghe người chửi mắng ta, tức là người cho ta công đức; phước báo ta không có, nay có người mắng ta, đó là phước báo. Thí dụ như quí vị tin Phật tức là quí vị đã có chút công đức rồi, nhưng quí vị cũng còn phải qua sự thử thách mới biết được, cho nên có câu nói:

Nhất thiết thị khảo nghiệm,  Khán nhĩ chẩm ma biện

Ðịch diện nhược bất thức, Tu tái tòng đầu lai.

Câu trên nghĩa là hết thảy đều là sự thử thách, coi quí vị xử sự ra sao. Gặp thử thách mà quí vị xử sự không đúng, thì quí vị phải tập lại từ đầu.

Nếu quả quí vị nghĩ được như vậy tức là theo được câu "quán ác ngôn thị công đức."

Thử tắc thành ngô thiện tri thức: Người nào dùng lời ác nói với ta, ta cho rằng đó là điều hay cho ta, như vậy là họ đã giúp ta, họ chính là vị thiện tri thức của ta vậy. Ta tu đạo mà chẳng thành tựu, có người giúp ta thành tựu; ta làm công đức mà không thành tựu, có người giúp ta thành tựu công đức; ta cầu mà không mãn nguyện, có người tác thành cho ta, giúp ta mãn nguyện.

Bất nhân san báng khởi oán thân: Chẳng vì người nói xấu và chê cười ta mà ta sanh lòng oán hận. Ðối với những lời dèm pha, nói xấu, ta chẳng hề có chút gì gọi là tức giận, gọi là buồn bực, gọi là oán ghét, mà ngược lại ta còn đem lòng biết ơn. Ta giữ lòng bình đẳng, không oán không thân, bởi vì ta đủ sức từ bi nhẫn nhục, không tham, sân, si, ba thứ độc này, ta nghe người mắng ta, ta không oán, không ghét, cũng không sanh tâm hoan hỷ, đó chính là tâm bình đẳng, giống như nghe mà chẳng nghe.

Hà biểu vô sanh từ nhẫn lực: Nếu như chẳng đạt tới trình độ này, thì làm sao biểu hiện nổi vô sanh pháp nhẫn, cũng như lòng từ bi nhẫn nại?

Do đó chúng ta phải làm thế nào để khi gặp cảnh nghịch mà coi như cảnh thuận; để tìm thấy cái hay trong cái dở; để đối với kẻ thù địch mà có thái độ hòa giải, không đối đầu, không mang trong lòng ý nghĩ cừu hận. Nếu hiểu được đạo lý đó mới gọi là hiểu Phật pháp một cách chân chánh.

自從頓悟了無生,於諸榮辱何憂喜。
Tự tòng đốn ngộ liễu vô sanh, Ư chư vinh nhục hà ưu hỷ.

Dịch:

Tự thời thoắt ngộ pháp vô sanh, Cơn vinh nhục mừng lo gì tá?

Tự tòng đốn ngộ liễu vô sanh: Bất cứ ai tu hành, nếu đốn ngộ, chứng được pháp vô sanh nhẫn, là biết tu hạnh nhẫn nhục.

Ư chư vinh nhục hà ưu hỷ: Có ai sỉ nhục ta, có gì đâu mà buồn; có ai khen ta, có gì đâu mà vui? Vinh nhục chẳng buồn động tâm. Mọi sự xảy đến, gặp mọi hoàn cảnh, ta đều sống với công phu nhẫn nhục.

Bồ-tát Di-lặc tu nhẫn nhục, nên Ngài có bụng phệ, và bụng của Ngài có thể chứa mọi thứ mà thế gian không chứa nổi. Ngài luôn luôn cười, Ngài nhìn người thế gian rất buồn cười. Chúng ta xem như vậy thì đủ hiểu.

Như Ðức Phật Thích-ca, trong thời gian Ngài tu nhân, đã xả thân làm mồi cho hổ. Hổ là ác thú, Ngài đem sanh mạng của mình bố thí cho hổ, hổ ăn thịt của Ngài nên không bị chết đói. Chim ưng cũng là một loại ác điểu. Ngài cắt thịt của mình cho chim ưng ăn khi thấy nó đói không bay được và nó sắp sửa ăn thịt con chim bồ câu. Ngài lóc thịt trên toàn thân mình cho nó ăn như vậy. Quí vị thử nghĩ coi, xả thân làm mồi cho hổ, cắt thịt trên thân mình cho chim ăn, điều này thực chẳng ai làm được!

Trong thời kỳ tu nhân, Ðức Phật Thích-ca xả thân mình không biết bao nhiêu lần, hy sanh tính mạng cho nhân loại không biết bao nhiêu lần. Trong tam thiên đại thiên thế giới, khắp hết mọi nơi, không một chỗ nào, thậm chí nhỏ như hạt bụi mà không phải là nơi mà chư Phật mười phương đã từng bố thí sanh mạng. Nói một cách khác, mỗi chỗ nhỏ như hạt bụi là mỗi địa điểm mà chư Phật mười phương đã từng hy sanh thân mạng, bố thí thân thể của mình. Nếu quả chúng ta hiểu được ý nghĩa này, thì còn có gì mà chẳng buông bỏ được? Ðể đến nỗi chấp trước? Ðể tối ngày tính tới tính lui, làm sao có tiền, làm sao cho phát tài

Thursday, June 14, 2018

BÁN CÔNG ĐỨC

Huyện Ma Thành, tỉnh Hồ Bắc, có người họ Vương ăn chay trường được ba năm. Bỗng nhiên thân thể bị ghẻ lở đau đớn không chịu nổi, do đó sinh tâm thối thất, không tin vào công đức của việc ăn chay.

Có người bạn của họ Vương đến thăm bệnh, an ủi rằng: “Anh là người ăn chay, chắc chắn sẽ được trời Phật gia hộ.” Họ Vương nói: “Tôi ăn chay đã ba năm, nay lại chịu nghiệp báo xấu ác như thế này, xem ra ăn chay nào có ích lợi gì?”

Người bạn liền nói: “Nếu anh không muốn ăn chay nữa, anh có thể bán công ăn chay của anh cho tôi được chăng?”

Họ Vương hỏi: “Bán như thế nào?”

Người bạn nói: “Cứ mỗi ngày anh đã ăn chay, trị giá một phân bạc; cộng cả ba năm anh sẽ được 10 lạng 8 cân bạc.”[*]

Họ Vương nghe vậy mừng lắm, liền viết giấy bán rồi nhận đủ tiền, dự tính hôm sau sẽ thôi không ăn chay nữa. Đêm ấy nằm mộng thấy hai con quỷ đến mắng rằng: “Mạng sống của ông lẽ ra đã dứt từ mười tháng trước, nhờ ăn chay trường mới kéo dài được đến hôm nay. Nay ông bán công ăn chay, vậy tính ra ông đã sống vượt quá số năm đáng sống rồi.” Mắng như vậy rồi, lập tức muốn xông vào bắt mà dẫn đi. Họ Vương van nài xin chậm cho một đêm, định sẽ trả tiền lại cho bạn và phát nguyện ăn chay trường như trước.

Hôm sau, họ Vương nói với người bạn kia đòi lại giấy bán công ăn chay. Người bạn nói: “Ngay hôm qua lúc mang về tôi đã khấn trước bàn Phật mà đốt giấy đi rồi.” Họ Vương hết sức hối hận về việc ấy. Quả nhiên sau đó thì chết.

[*] Theo cách tính ở đây thì mỗi lạng bạc có 10 đồng cân, mỗi đồng cân có 10 phân bạc. Mỗi năm có 360 ngày, cộng 3 năm thành 1080 ngày, nên trị giá thành 10 lạng 8 cân bạc.

Trích An Sĩ Toàn Thư – Khuyên Người Tin Sâu Nhân Quả
Nguyên tác Hán văn: Âm Chất Văn Quảng Nghĩa
Tác Giả: Chu An Sĩ
Việt dịch và chú giải: Nguyễn Minh Tiến

Wednesday, June 13, 2018

CÁC LOẠI BỐ THÍ KHÔNG CẦN TIỀN

Một người nghèo hỏi Đức Phật: “Tại sao con nghèo như thế?”
 
Phật nói: “Vì con chưa học được cách bố thí cho người khác”
 
Người ấy nói: “Con không có thứ gì cả, thì lấy gì con bố thí”

Đức Phật dạy: “Cho dù con hoàn toàn không có cái gì, con vẫn có thể thực hiện bố thí 7 điều này:
 
 1. Nhan thí - Bố thí nụ cười
 2. Ngôn thí - Bố thí ái ngữ, nói lời tốt đẹp
 3. Tâm thí - Bố thí tâm hòa ái, lòng biết ơn
 4. Nhãn thí - Bố thí ánh mắt nhìn thẳng hiền từ
 5. Thân thí - Bố thí hành động nhân ái
 6. Tọa thí - Bố thí nhường chỗ cho người cần
 7. Phòng thí - Bố thí lòng bao dung
 
Khi nói đến sự bố thí, thì ta nhận ra có ba yếu tố tạo ra nó, đó là: người cho (năng thí), món đồ (vật thí), và người nhận (sở thí). Ba yếu tố cho ra sự Bố thí rất quan trọng, nếu thiếu một trong ba cái đó thì sẽ không có sự Bố thí.
 
Một sự bố thí được xem là trong sạch và đem lại phước đức quả báo vô lượng vô biên cần phải có ba yếu tố sau đây:
 
1) Người bố thí phải có tâm trong sạch.
 
2) Vật được thí phải chân chính.
 
3) Người nhận phải được kính trọng tối đa.
 
Người bố thí với tâm hoan hỉ không mong cầu, bố thí với tâm không trói buộc, bố thí không với ý nghĩ “ta sẽ hưởng thọ cái này ở đời sau”, chỉ bố thí với ý nghĩ “lành thay sự bố thí”. Vị ấy bố thí để trang nghiêm tâm. Do bố thí như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Phạm Chúng. Khi nghiệp lực đoạn tận, thần lực, danh tiếng và uy quyền đoạn tận, vị ấy trở thành vị Bất lai, không trở lui lại trạng thái này.
 
I. Trên phương diện người cho thì có hai loại: Bố thí trong sạch và không trong sạch.
 
·  bố thí với tâm trong sạch, không cầu phước báo
 
·  bố thí không trong sạch vì: tư lợi, bất kính, chán ghét, yếu hèn, muốn dụ dỗ, sợ chết, muốn chọc tức, ghen tức, ganh đua, kiêu ngạo, cầu danh, tránh né sự nguy hiểm, muốn mê hoặc lòng người,... Tóm lại bố thí vì một cái tâm xấu xa, không nghĩ đến sự an vui hay lợi ích cho người nhận.
 
II. Trên phương diện vật thí thì có ba loại: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí.
 
1) Tài thí: tức bố thí tiền. Chia ra hai loại: Ngoại thí và Nội thí. Tài thí chân chính: là những đồ vật được bố thí không phải do từ trộm cắp hay cướp giật. Nếu ngược lại là tài thí không chân chính.
 
a) Ngoại thí: Ngoại thí là bố thí những đồ vật bên ngoài như: vàng, bạc, của cải, quần áo, đồ ăn thức uống...
 
b) Nội thí: Nội thí là bố thí những gì trong thân thể con người chúng ta; như xưa kia đức Phật còn làm Bồ Tát đã bố thí đầu, mắt, chân, tay... Ngày nay ta không làm nổi như vậy thì ta có thể ra công giúp sức như làm công quả, kéo xe cho người già, v...v... Hoặc tiếp máu cho bệnh nhân ở nhà thương, hoặc ký giấy cho những bộ phận trong thân thể mình nếu bị chết bất đắc kỳ tử.
 
Phước báo của Tài thí vẫn thuộc cõi Dục giới. Quả báo của Tài thí còn thuộc về hữu lậu. Sự Bố thí tài (tiền của, đồ vật) có giới hạn vì tiền cho lâu rồi cũng hết.
 
2) Pháp thí: tức bố thí pháp.
 
a) Ðem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời nói chân thật, hữu ích khuyên bảo người khác có thể đem lại an lạc cho người nghe bỏ dữ theo lành, cải tà quy chánh
 
b) Giảng dạy chánh pháp, kinh, luật và luận.
 
Phước báo của Pháp thí có thể nằm trong ba cõi hoặc ngoài ba cõi. Chỉ có bố thí Pháp mới có thể dẫn người khác đến con đường giác ngộ. Bố thí Pháp không có giới hạn.
 
3) Vô úy thí: giúp cho người ta vượt qua khỏi sự sợ hãi, tức là làm cho người khác được an tâm yên chí, khiến họ được an ổn, bình tâm, đem đến đó một niềm an lạc, bình tĩnh vui vẻ cho mọi người và mọi vật.
 
III. Trên phương diện người nhận (tức đối tượng của sự bố thí), còn được gọi là ruộng phước (phước điền) thì có hai loại: ruộng phước nhỏ và ruộng phước lớn.
 
Tại sao lại gọi người nhận ruộng phước? Tại vì chính ở nơi họ mà ta gieo hạt giống phước đức nên gọi là ruộng phước. Nhờ có họ mà ta mới thực hiện được sự Bố thí.
 
Có hai loại ruộng phước:
 
1) Ruộng phước nhỏ: Vì lòng thương hại người nhận nên ta phát tâm bố thí. Những hạt giống thương hại sẽ cho ra những cây lúa nhỏ, nên gọi là ruộng phước nhỏ.
 
2) Ruộng phước lớn: Vì có tâm kính trọng người nhận nên ta phát tâm bố thí. Những hạt giống kính trọng sẽ cho ra những cây lúa lớn, nên gọi là ruộng phước lớn.
 
Không Phải Dùng Tiền Mới Là Bố Thí
 
Phật dạy cho chúng ta phương pháp phá trừ tập khí, bảo chúng ta bố thí. Bố thí chính là xả kỉ lợi tha. Bố thí phải làm triệt để, không phải nói bạn đến cái đạo tràng này để quyên góp một ít tiền, vậy gọi là bố thí, cái này không có hiệu quả, nếu như bạn thể hội như vậy, là bạn đã hoàn toàn hiểu sai ý của Phật rồi, đã hiểu sai ý của Phật. Trong kệ khai kinh nói: Nguyện giải Như Lai chân thực nghĩa. Bạn là hiểu sai nghĩa chân thật của Như Lai rồi.
 
Kiểu vào trong tự miếu để xả một ít tiền này, không có tác dụng. Trong kinh nói rất rõ ràng: Xả kỉ lợi tha. Cần xả thân của mình, xả tâm của mình mới được. Cái sự việc này khó rồi! Thực ra không khó. Bạn ở gia đình, tôi nghĩ chúng ta các đồng tu đang ngồi đây có không ít người làm nội trợ.
 
Bạn ở trong gia đình bận rộn từ sáng đến tối, ta là vì lợi ích người trong cả gia đình này, thân tâm đều bố thí, bố thí cho người trong gia đình của ta. Ta vì người trong gia đình này mà lao nhọc phục vụ, dùng thể lực của ta dọn dẹp trong nhà rất gọn gàng ngăn nắp, rất sạch sẽ, làm việc chăm chỉ, là Xả Thân
 
Còn phải thường xuyên suy nghĩ, làm thế nào cải thiện chất lượng đời sống, nâng cao trình độ đời sống tinh thần, vật chất của người trong gia đình, đây là bố thí trí tuệ của bạn, tâm cũng bố thí rồi. Gia đình ngăn nắp rồi, chúng ta sống trong cộng đồng nhỏ hàng xóm, khu phố, ta phải vì cái cộng đồng này mà phục vụ, cái này gọi là xả kỉ lợi nhân, đây gọi là bố thí. Cho nên bố thí không phải bảo bạn xả một ít tiền trong cửa Phật gọi là bố thí, thế bạn làm không biết là sai đến chỗ nào rồi. THÂN TÂM đều dùng để bố thí cúng dường tất cả đại chúng, không vì lợi ích cho bản thân.
 
Cho nên từ những cái gần gũi nhất của bạn. Phật pháp chúng ta thường nói: Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa. Cái thuận tiện nhất chính là người trong gia đình bạn, chính là người chung quanh đời sống của bạn. Bạn mỗi ngày làm việc, nơi làm việc của bạn, bạn phải tiếp xúc một số người, tất cả hoàn cảnh, bạn tận tâm tận lực, nỗ lực mà làm việc, đó chính là bố thí. Muốn hình thành một cái tâm nguyện Phật Bồ-tát, ta chỉ phục vụ, chỉ làm tròn nghĩa vụ, không hưởng quyền lợi, đây là Bồ-tát.
 
Nếu như ta làm tròn nghĩa vụ, ta còn muốn hưởng quyền lợi, vậy tâm của bạn đã có trụ rồi. Bố thí không sai, nhưng mà tâm của bạn có trụ. Phật dạy chúng ta: Nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, tức là ta chỉ làm tròn nghĩa vụ mà không hưởng quyền lợi, đây là Phật Bồ-tát. Phàm phu làm tròn nghĩa vụ, nhưng muốn hưởng thụ quyền lợi, đó là phàm phu.
 
Phật nói cho chúng ta biết, là tăng trưởng chấp ngã, không thể ra khỏi tam giới. Mục đích của chúng ta là phải ngay trong đời này vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử luân hồi, không tạo lục đạo nữa. Phương pháp không tạo lục đạo nữa chính là chỉ làm tròn nghĩa vụ, không hưởng quyền lợi.

Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn

Ngã chia làm 2: bản ngã (vọng tâm) và chơn ngã (chơn tâm). Quán chiếu nội tâm, tìm Bản Tâm, Vọng Tâm mà biến, hiện Chân Tâm. Chân Tâm rạng r...